Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2020

XÂY DỰNG BẢN LINH CHÍNH TRỊ VỮNG VÀNG ĐỂ PHÒNG CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”

Trước hết, chúng ta cần tiếp tục thực hiện tốt công tác giáo dục về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cơ sở để xây dựng cho cán bộ, đảng viên có lập trường, quan điểm chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Theo đó, trong công tác giáo dục, đào tạo, cần đổi mới nội dung, hình thức giảng dạy lý luận chính trị trong các học viện, nhà trường, cơ sở đào tạo; đồng thời, duy trì nghiêm túc chế độ học tập, bồi dưỡng chính trị tại chức ở các cơ quan, đơn vị. Mặt khác, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác, tích cực học tập, nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ động, tự giác rèn luyện bản lĩnh chính trị, tránh biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Hằng năm, cấp ủy đảng các cấp có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, ngành, địa phương. Thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ KHÔNG VỮNG VÀNG LÀ CĂN NGUYÊN CỦA “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”

 “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở một bộ phận cán bộ, đảng viên là hệ quả của bản lĩnh chính trị không vững vàng và sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đây là một thách thức to lớn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

LUẬT PHÁP QUỐC TẾ VỀ NHÂN QUYỀN

Tuyên ngôn Thế giới về quyền con người năm 1948 và hai Công ước quốc tế về quyền con người năm 1966 (Công ước về quyền dân sự và chính trị - ICCPR; Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa - ICESCR), cùng các nghị định thư bổ sung tạo thành Bộ luật quốc tế về quyền con người - là nền tảng của hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người hiện nay. Điều 2 của bản Tuyên ngôn năm 1948 quy định quyền con người: “không phân biệt đối xử về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quan điểm khác, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội…”. Đồng thời, quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của cá nhân: “1. Mọi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng là nơi duy nhất mà ở đó nhân cách của bản thân họ có thể phát triển tự do và đầy đủ. 2. Trong khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

QUYỀN, NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN CỦA CÁ NHÂN, CÔNG DÂN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Môi trường mạng là không gian rộng lớn, cá nhân, công dân và bất kỳ cơ quan, tổ chức nào cũng đều có thể tự do bày tỏ quan điểm chính kiến, kết nối trao đổi với nhau. Đó là quyền tự do của cá nhân: quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin (tự do tìm kiếm, tiếp nhận và trao đổi thông tin) trên môi trường mạng. Đây là quyền tự do cơ bản của công dân được pháp luật quốc tế, Hiến pháp, pháp luật Việt Nam tôn trọng và bảo vệ.

CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ KHÔNG GIAN MẠNG

Hiện nay, có nhiều quan niệm, cách tiếp cận khác nhau về không gian mạng hay còn gọi là không gian ảo. Đây là môi trường nhân tạo, con người không trực tiếp gặp nhau, nhưng lại có thể trao đổi thông tin, liên lạc với nhau qua một hệ thống mạng, được kết nối toàn cầu - mạng toàn cầu, trên cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước, các vùng, khu vực và toàn cầu. Khoản 3, Điều 1, Luật An ninh mạng năm 2018 của nước ta xác định: “Không gian mạng là mạng lưới kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng internet, mạng máy tính, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian và thời gian”.

NHỮNG LUẬN ĐIỆU VU KHỐNG, BỊA ĐẶT

Thời gian gần đây, trước những vụ việc một số người vi phạm pháp luật, như: “Chống người thi hành công vụ”, “gây rối trật tự công cộng”, “vu khống, bịa đặt”... bị cơ quan chức năng ra lệnh bắt, khởi tố thì các thế lực cơ hội, thù địch lại bịa đặt cho rằng việc khởi tố, bắt tạm giam ấy là những cuộc “trấn áp, bắt bớ” nhằm mục đích “dọn sạch môi trường trước đại hội đảng". Điển hình là vụ công an bắt Trịnh Bá Phương, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Tư và Nguyễn Thị Tâm. Cả 4 bị can đều bị điều tra về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015.

NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM LUÔN BÁM SÁT ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Việc phát triển nền KTTT tại Việt Nam phải mang định hướng XHCN để xây dựng CNXH, chứ đây không phải là một nền KTTT theo kiểu tư bản, để xây dựng chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong nền KTTT mà chúng ta đang xây dựng, thì “định hướng xã hội chủ nghĩa” của nền kinh tế được nhất quán xác lập và tăng cường thông qua sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, lấy con người làm trung tâm, vì mọi người và do con người; phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Gắn kết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, nền kinh tế của Việt Nam đã khắc phục được rất nhiều hạn chế của KTTT tự do. Kết quả phòng, chống dịch Covid-19 đã cho thấy rõ hiệu quả định hướng, điều hành của Nhà nước ta trong nền kinh tế-xã hội so với nhiều quốc gia khác.