Hiển thị các bài đăng có nhãn định hướng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn định hướng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

"HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI": CÂU NÓI TRUYỀN CẢM HỨNG NHẤT CỦA LÊNIN

V.I.Lênin hiểu rõ tầm quan trọng của trí tuệ, Người cho rằng trí thức chính là “niềm tự hào vĩ đại của nhân loại”. Chính vì vậy, vị lãnh tụ vĩ đại đã có một câu nói rất nổi tiếng, đó là: “Học, học nữa, học mãi”.

Nguồn học là vô tận và con người đứng trước kiến thức rộng lớn của nhân loại lại trở thành một loài sinh vật bé nhỏ, nó giống như hạt cát giữa sa mạc rộng lớn. Kiến thức là vô tận, nếu con người chúng ta cứ sống mãi trong khuôn phép, cứ tự cho mình là tài giỏi thì quả thật là thiệt thòi. Chính vì chúng ta không tiếp thu là tạo cơ hội cho người khác giỏi hơn mình.

Học như một cánh cửa kì diệu nhưng không có chiếc chìa khóa nào để mở nó ra, vậy học cũng là đang dần dần chế tạo ra chiếc “chìa khóa” đó và khám phá mọi điều ở bên trong cánh cửa, đó là kiến thức và sự thành công. Nhà bác học Charles Robert Darwin cũng từng nói "Bác học không có nghĩa là ngừng học”.

Như chúng ta thấy có những cụ già, những người đã lớn tuổi nhưng ngày ngày vẫn đọc sách, vẫn ngâm nga những câu thơ trong những cuốn sách thời xưa. Học không chỉ là tính toán mà nó còn là đọc và chiêm nghiệm. Họ tuổi già sức yếu nhưng điều đó không có nghĩa là họ dừng lại mọi con đường đi đến với kiến thức.

Nhưng ngược lại, bên cạnh những người ngày đêm miệt mài với sách vở với trau dồi rèn luyện cho bản thân thì cũng không ít những người lại chây lười, tự cao tự đại không muốn tiếp thu của ai một điều gì và luôn tự cho mình là đúng.

Câu nói của Lênin mặc dù trải qua bao nhiêu thời gian nhưng nó vẫn luôn là một câu nói đầy động lực cho bất cứ một con người nào. "Học, học nữa, học mãi" để luôn là người linh hoạt và hiểu biết để bắt kịp với thời đại. Mỗi loại kiến thức đều giúp ta mở rộng hiểu biết về một lĩnh vực riêng.

Như kiến thức toán học giúp chúng ta tính toán dễ dàng, kiến thức văn học giúp ta có hiểu biết về ngôn từ, cách biểu đạt, kiến thức địa lí giúp chúng ta biết thêm về những miền đất mới, con người mới... Còn rất nhiều lĩnh vực khác nữa với nhiều điều thú vị, hấp dẫn.

Trong mỗi một câu chuyện hay mỗi một lời nói đều ẩn chứa một phần của kiến thức, chúng ta chỉ cần biết hợp những điều mà mắt thấy tai nghe, sự hiểu biết của chúng ta lại thì sẽ có được một khái niệm, một chân lí, một định lí nào đó rồi hãy khắc ghi lại, sẽ có lúc chúng ta cần vận dụng đến. Chính những vốn kiến thức từ bé, tu luyện bồi dưỡng dần cùng thời gian, nó sẽ kết lại thành một khối kiến thức giúp ích cho ta về hiện tại và cả về sau, nó giúp chúng có thể thành đạt trong cuộc sống.

Trong thời đại khoa học ngày nay, nhu cầu về học tập là rất cấp thiết. Và để theo kịp xã hội và cách thích nghi với đời sống văn minh thì lại càng cấp thiết hơn. Cứ mỗi giờ trôi qua, mỗi ngày trôi qua thì lượng kiến thức lại càng nhiều, do đó chúng ta cần phải luôn luôn học. Đó chính là ý nghĩa của ý thứ hai “học nữa”.

Thế giới kiến thức là rất rộng lớn, để tiếp thu, tìm hiểu được hết mọi kiến thức thì chắc hẳn là không thể, thậm chí cả đời người cũng không xong, bởi vậy ngoài việc “học nữa”, thì còn phải “học mãi”.

Biểu tượng thế giới vì nhân quyền thế kỷ 20 - Tổng thống Nam Phi N. Mandela từng nói: “Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới”. Bill Gates - Chủ tịch tập đoàn phần mềm khổng lồ Microsoft nói: “Nhà trường chỉ cho chúng ta chiếc chìa khóa tri thức, học trong cuộc sống là công việc cả đời”.

Hay tục nữ Việt Nam có câu: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn". Tất cả đều cho thấy rằng, mục đích của việc học tập là đổi mới con người, đổi mới xã hội, bởi kiến thức khoác lên cho dân tộc, cho thế giới một bộ áo văn minh, hiện đại mà mỗi chúng ta chính là người được hưởng thành quả ấy.

Câu nói “Học, học nữa, học mãi” của Lênin chính là chân lí của học tập. Câu nói trên chính là một lời khuyên, một định hướng đúng đắn trong cuộc sống. Có học mới có được kiến thức, có được kiến thức mới có thể có hành trang để bước vào đời.

Cái “học” ở đây không đơn thuần là tiếp nhận kiến thức khoa học mà nó còn là tiếp nhận kiến thức đạo đức, lí lẽ, biết phân biệt tốt xấu. Nó còn thể hiện cần học ở mọi lúc, mọi nơi, mọi phương diện.

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

ĐỊNH HƯỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC TINH THẦN YÊU NƯỚC, Ý THỨC DÂN TỘC CHO THẾ HỆ TRẺ HIỆN NAY

Ở Việt Nam, ý thức dân tộc gắn liền với tinh thần yêu nước, chủ nghĩa dân tộc gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Yêu nước là tình cảm tự nhiên, tình cảm sâu sắc nhất của con người đối với Tổ quốc; đằng sau tình cảm ấy là tinh thần trách nhiệm và sứ mệnh đối với đất nước, nói như trước đây là “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Chính vì vậy, bản chất của lòng yêu nước là trung thành với Tổ quốc, là yêu quê hương, đất nước. Năm 1942, khi bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và giải đi khắp 13 huyện ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã tự hỏi lòng mình: “Phạm tội gì đây? Ta thử hỏi,/ Tội trung với nước, với dân à?”. Chữ “tội” ở đây không phải là tội lỗi hay là tội trước pháp luật, mà là sự tự vấn lương tâm đã làm tròn trách nhiệm với đất nước, với nhân dân, với dân tộc chưa. Và Người đã thấy vô cùng thanh thản và tự hào vì đã tận trung với dân tộc. “Tội” mà ngẩng cao đầu, mà vô cùng tự hào. Trước đó, trong ngục tù ở Trung Quốc, Phan Bội Châu cũng có sự đồng cảm như vậy. Năm 1913, khi bị Đô đốc Quảng Đông bắt giam dự định giao cho chính quyền thuộc địa Đông Dương, trong cuốn sách Ngục trung thư, Phan Bội Châu viết: “Tôi biết sớm chiều gì đây, đầu tôi cũng lìa khỏi cổ, nhưng tôi vẫn lấy làm vui vẻ. Than ôi! Bao nhiêu năm bôn-tẩu, mưu tính trăm việc mà không nên một việc gì, nghĩ mình tội nặng lỗi nhiều, có vui gì sống nữa mà ham”. Không cứu được dân tộc thoát khỏi kiếp nô lệ thì sống cũng không có ý nghĩa. “Tội” ở đây chính là trách nhiệm xã hội cao quý nhất, trách nhiệm với quốc gia dân tộc, trung thành với Tổ quốc. Rõ ràng, tinh thần dân tộc và lòng yêu nước là mầm mống có sẵn trong tất cả quốc dân, không ai xóa bỏ được. Lòng yêu nước là giá trị chung của nền văn minh và của xã hội loài người.

Giáo dục ý thức dân tộc luôn được đặc biệt chú trọng từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cho đến nay. Cần nhắc lại rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam được thai nghén và ra đời trong bối cảnh dân tộc sục sôi tinh thần yêu nước. Những câu chuyện về Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873), Trương Định (1820 - 1864), Nguyễn Đình Chiểu (1822 - 1888), Nguyễn Xuân Ôn (1825 - 1889), Hoàng Diệu (1829 - 1882), Hoàng Hoa Thám (1836 - 1913), Đinh Công Tráng (1842 - 1887), Nguyễn Thiện Thuật (1844 - 1926), Phan Đình Phùng (1847 - 1896),... luôn cháy bỏng trong tâm hồn mỗi người dân Việt Nam yêu nước đầu thế kỷ XX. Cũng tương tự như vậy, những tấm gương yêu nước đương thời như Lương Văn Can (1854 - 1927), Tăng Bạt Hổ (1858 - 1906), Nguyễn Thượng Hiền (1868 - 1925), Trần Quý Cáp (1870 - 1908), Phan Bội Châu (1867 - 1940), Phan Châu Trinh (1872 - 1926), Đặng Thái Thân (1874 - 1910), Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947), Ngô Đức Kế (1878 - 1929), Đội Cấn (1881 - 1918), Lương Ngọc Quyến (1885 - 1917)... cũng là nguồn sức mạnh tinh thần cao cả cho những người cộng sản hoàn thành sứ mệnh đang còn thực hiện dở dang của cha ông.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”. Tuổi trẻ là niềm hy vọng, là tương lai của Tổ quốc, là lực lượng xung kích, hăng hái nhất, mạnh mẽ nhất của đất nước. Họ chính là đối tượng chủ yếu của giáo dục ý thức dân tộc. Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trách nhiệm với đất nước... là cơ sở quan trọng, to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, giáo dục ý thức dân tộc trong giai đoạn hiện nay phải hướng đến đội ngũ thanh, thiếu niên; giáo dục một cách bài bản, có hệ thống. Giáo dục ý thức dân tộc cần lồng ghép trong toàn bộ chương trình học tập và hoạt động ngoại khóa của học sinh, sinh viên, cũng như các hoạt động xã hội khác của thanh, thiếu niên nói chung. Giáo dục ý thức dân tộc không chỉ dừng lại ở sách vở, mà phải thật sự đi vào chiều sâu, tạo nên những chuyển biến tích cực trong nhận thức, tình cảm và hành vi của thanh, thiếu niên. Điều đó có nghĩa, tinh thần dân tộc, chủ nghĩa yêu nước phải luôn hiện hữu trong tâm trí và trái tim thế hệ trẻ Việt Nam, sẵn sàng chuyển hóa thành những hành động cụ thể và thiết thực.

Hiện nay, ở tầm vĩ mô, Việt Nam đang thiếu một chiến lược giáo dục ý thức dân tộc; ở tầm vi mô, chúng ta đang thiếu chương trình, giáo trình, công cụ, phương pháp và đội ngũ nhà giáo - những người trực tiếp truyền lửa, giáo dục lòng yêu nước và ý thức dân tộc cho thế hệ trẻ. Khách quan mà nói, tuy chưa có chiến lược giáo dục ý thức dân tộc, song ý thức dân tộc và tinh thần yêu nước vẫn được giảng dạy thường xuyên trong môi trường giáo dục, nhất là thông qua lồng ghép trong các môn học. Thông qua công nghệ thông tin, internet, thế hệ trẻ nước ta đã tìm ra nhiều kênh và cách thức đa dạng để thể hiện lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Tuy nhiên, sự thể hiện lòng yêu nước, tinh thần dân tộc của thế hệ trẻ không chỉ giới hạn ở internet, mà còn thông qua các hoạt động truyền thông, ngoại khóa, văn hóa nhà trường để hòa chung nhịp đập với văn hóa dân tộc, giá trị dân tộc, sự thiêng liêng của chủ quyền quốc gia.

Giáo dục ý thức dân tộc có vai trò vô cùng quan trọng và gắn liền với việc xây dựng ý thức cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Ý thức cộng đồng, quốc gia, dân tộc là điều kiện tiên quyết để đoàn kết dân tộc, là chìa khóa để hội tụ bản sắc dân tộc, là cội nguồn của tự tôn dân tộc, là sức mạnh của tinh thần dân tộc. Văn hóa Việt Nam, văn hiến Việt Nam với sự đa dạng sắc màu của các dân tộc đã trở thành một thể thống nhất. Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi - luận điểm bất hủ ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh thật giản dị, nhưng lại hết sức sâu sắc, thấm đậm tính triết lý và thể hiện trọn vẹn niềm tự hào, tự cường dân tộc của mọi người dân đất Việt. Thực vậy, đất nước Việt Nam là của người Việt Nam thuộc cộng đồng 54 dân tộc anh em luôn hòa thuận, kết thành một khối thống nhất và bền vững để cùng sáng tạo nên lịch sử của mình.

Giáo dục ý thức dân tộc cho tuổi trẻ không thể tách rời việc giáo dục tư tưởng chính trị, gắn liền tinh thần yêu nước, yêu dân tộc với yêu Đảng, yêu Bác Hồ và yêu chủ nghĩa xã hội. Trong Di chúc của mình, với niềm tin tuyệt đối vào thế hệ trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Đoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Thế hệ trẻ chính là người nối tiếp sự nghiệp cách mạng, những người sẽ bảo vệ và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Giáo dục ý thức dân tộc cần gắn liền với việc nâng cao ý thức bảo vệ Tổ quốc, phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ý thức dân tộc luôn mang đặc trưng riêng của thời đại. Thời đại khác nhau có nội dung tư tưởng, hình thức biểu hiện, yêu cầu thực tiễn khác nhau. Giáo dục ý thức dân tộc ở Việt Nam hiện nay không chỉ cần bám sát nội dung cốt lõi của giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, mà còn phải nắm được xu thế mới và phản ánh được đặc điểm mới của thời đại, phù hợp với yêu cầu mới của thời đại.

Cần giáo dục ý thức dân tộc một cách sinh động, sáng tạo, tích cực đổi mới phương thức giáo dục ý thức dân tộc. Thế hệ trẻ ngày nay rất nhạy bén trong tư duy và cách tiếp cận, luôn khao khát và sẵn sàng đón nhận cái mới; vì vậy, cần tránh lối giáo dục một chiều, cứng nhắc, nói suông, mà cần cụ thể, thiết thực, sinh động, lồng vào các hoạt động thực tiễn và hòa vào trong cuộc sống. Giáo dục ý thức dân tộc không chỉ thuần túy dựa vào tình cảm thông qua những câu chuyện sâu lắng và xúc động, mà còn phải nhấn mạnh đến lý trí, nghĩa là phải có tư duy, có con số, có tư liệu, dữ liệu, có những điển hình tích cực phù hợp thời đại mới.

Giáo dục ý thức dân tộc cho tuổi trẻ là đối tượng học sinh, sinh viên, trách nhiệm trước hết và lớn nhất thuộc về nhà trường. Cần phát huy cao nhất vai trò chủ đạo của kênh giáo dục chính thống này. Muốn vậy, cần tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới chương trình đào tạo, đổi mới cách tiếp cận đối tượng học sinh, sinh viên. Tiếp tục thực hiện quan điểm lấy người học làm trung tâm, phát huy sức sáng tạo và sự nhiệt tình của người học, sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học và tương tác để nâng cao hiệu quả của giáo dục ý thức dân tộc. Kết hợp môi trường nhà trường với môi trường văn hóa, giáo dục không chỉ ở trên lớp mà còn thông qua các hoạt động ngoại khóa, như thăm quan di tích văn hóa, bảo tàng lịch sử, đài tưởng niệm liệt sĩ...

Bên cạnh các kênh giáo dục chính thống, cần tập trung vào các nền tảng mạng xã hội cũng như tận dụng môi trường internet để giáo dục ý thức dân tộc.

Giáo dục ý thức dân tộc phải bắt nguồn từ tình cảm yêu gia đình, ông bà, cha mẹ, cho đến tinh thần nhân văn và truyền thống anh dũng, bất khuất của dân tộc. Tự hào với quá khứ hào hùng, truyền thống dân tộc, di sản văn hiến là nền tảng cho tự tin dân tộc và tự tôn dân tộc. Giáo dục ý thức dân tộc cũng phải gắn truyền thống với hiện đại, hiện đại ở đây chính là thành quả ấm no, hạnh phúc của người dân Việt Nam đạt được trong những năm qua, nhất là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới đến nay. Từ truyền thống gắn kết với hiện đại và phải hướng đến tương lai, đó chính là một xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, cho mọi người và do mọi người dân Việt Nam cùng chung tay xây dựng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Chủ nghĩa dân tộc chân chính là động lực phát triển của Việt Nam, xưa cũng vậy mà nay cũng vậy. Có lòng tự tôn dân tộc, có niềm tin trải dài từ quá khứ đến tương lai, đó chính là giá đỡ, bệ phóng giúp thế hệ trẻ nước nhà vượt qua những khó khăn và thử thách, dũng cảm gánh vác trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc để bước vào kỷ nguyên hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.

Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ NHÀ GIÁO QUÂN ĐỘI HIỆN NAY VÀ NHỮNG NĂM TIẾP THEO

Đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục theo hướng gắn kết chặt chẽ với định hướng xây dựng, phát triển Quân đội và nền giáo dục quốc dân là nội dung quan trọng hàng đầu hiện nay. Nội dung này cần được hiện thực hóa, quá trình thực hiện sẽ gặp nhiều khó khăn, phức tạp, nên cần sự quyết tâm, nỗ lực cố gắng rất cao của cấp ủy, chỉ huy và cơ quan chức năng, các nhà trường Quân đội.

Trước hết, cần quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác giáo dục, đào tạo. Trên sơ sở đó, các cơ quan chức năng, trực tiếp là Cục Nhà trường nghiên cứu, tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xây dựng, triển khai thực hiện có hiệu quả Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong Quân đội giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Đề án: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong Quân đội giai đoạn 2020 - 2030”, v.v.

Nghiên cứu, triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm tính khoa học, sát thực tế, hiệu quả trong việc thực hiện công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, ngoại ngữ, công nghệ, nghiệp vụ sư phạm, quản lý, kinh nghiệm thực tiễn,... cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đạt chuẩn theo quy định. Đồng thời, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo cơ chế, chính sách để thu hút nhân tài; sử dụng nhân lực đúng khả năng, sở trường, phát huy tối đa năng lực, trình độ của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý; phấn đấu đạt các tiêu chí đề ra, nhất là nâng cao tỷ lệ cán bộ, giảng viên có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, chức danh giáo sư, phó giáo sư, danh hiệu nhà giáo Nhân dân, nhà giáo Ưu tú và trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ về giáo dục, đào tạo.

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2020

ĐỊNH HƯỚNG TƯ TƯỞNG CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ QUÂN ĐỘI TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. Trước sự kiện đó, các thế lực phản động đang tìm mọi cách chống phá hòng kích động, làm phân tâm trong đời sống xã hội về đường lối và công tác cán bộ của Đảng. Do vậy, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội trước thềm Đại hội XIII của Đảng là việc làm có ý nghĩa thiết thực, góp phần quan trọng vào thành công của Đại hội.

Dư luận xã hội, cũng như mọi hiện tượng xã hội khác luôn nảy sinh, tồn tại trong quá trình vận động, biến đổi và phát triển. Nhận rõ vai trò quan trọng của dư luận xã hội, các thế lực thù địch tranh thủ mạng xã hội, kết nối internet, sử dụng lực lượng, phương tiện trong và ngoài nước để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, tạo sự chống đối từ nội bộ Đảng, làm mất niềm tin, hoài nghi lẫn nhau dẫn đến mất đoàn kết mà tự diễn biến, tự tan vỡ. Họ cố tình đưa nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc, đặc biệt là về công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội. Lợi dụng vào một số hạn chế, yếu kém trong quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước, chúng ra sức thổi phồng, bóp méo sự thật, bịa đặt, nhằm phủ nhận những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, v.v. Vì thế, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, tạo sự thống nhất về nhận thức, thái độ và hành động của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Để đạt được điều đó, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, thường xuyên cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời, đúng quan điểm, đường lối của Đảng và sát với tình hình thực tiễn của Quân đội. 

Thứ hai, tăng cường giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, nâng cao trình độ nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ. 

Thứ ba, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ các cấp trong định hướng và điều khiển dư luận. 

Thứ tư, nâng cao khả năng “miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ kết hợp với đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Thực hiện tốt những nội dung cơ bản trên, sẽ giúp cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân có cách nhìn tổng quan về thực trạng đời sống xã hội hiện nay và là điều kiện quan trọng để lãnh đạo, chỉ huy các cấp kịp thời có những biện pháp hữu hiệu trong định hướng tư tưởng bộ đội, nhất là khi Đại hội XIII của Đảng đang đến gần.

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2020

NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN ĐỂ QUÂN ĐỘI THAM GIA HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Trước tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, khó lường, tiềm ẩn nhiều nhân tố bất ổn, Đảng ta chủ trương: “Tiếp tục đổi mới và sáng tạo trong lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế - xã hội”. Trong đó, chú trọng: “Phát triển vững chắc, hiệu quả công nghiệp quốc phòng, an ninh. Phát triển phù hợp doanh nghiệp có khả năng sản xuất sản phẩm lưỡng dụng. Từng bước hình thành tổ hợp công nghiêp quốc phòng với sự tham gia của nhiều loại hình doanh nghiệp”. Cùng với việc tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, Quân đội cần tiếp tục đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng KTQP, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước. Trong đó, tập trung thực hiện tốt những định hướng cơ bản sau:

Trước hết, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ sản xuất phát triển kinh tế quốc phòng. Toàn quân, nhất là cấp ủy, chỉ huy các đơn vị được giao nhiệm vụ xây dựng khu KTQP cần tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng khu KTQP. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ vị trí, ý nghĩa, yêu cầu, tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng, phát triển khu KTQP trong thời kỳ mới, cũng như vai trò của Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ này; từ đó, nêu cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện.

Cùng với đó, tập trung chấn chỉnh tổ chức biên chế các đoàn KTQP, các doanh nghiệp quân đội phù hợp với chức năng, yêu cầu nhiệm vụ, theo hướng giảm khâu trung gian, giảm tối đa biên chế cơ quan để tăng cường quân số cho các đơn vị, đội sản xuất; thực hiện tốt việc điều chuyển đoàn KTQP về trực thuộc quân khu, nhằm thống nhất trong quản lý, chỉ đạo. Các đoàn KTQP chú trọng xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ chuyên môn kỹ thuật ở các cấp; đào tạo, tuyển dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số ở địa phương, trí thức trẻ tình nguyện. Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực về quản lý, phát triển kinh tế, kiến thức, kinh nghiệm về kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, công tác vận động quần chúng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Đối với những đơn vị KTQP hoạt động trên các địa bàn chiến lược phải góp phần tăng nguồn lực cho quốc phòng, đóng góp ngân sách nhà nước và phục vụ cho các hoạt động chính sách xã hội, chính sách hậu phương quân đội... Thông qua các hoạt động đó, các doanh nghiệp quân đội góp phần xóa đói giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới, củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc trên các địa bàn chiến lược, biên giới, vùng sâu, vùng xa.

Hai là, nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm của Đảng về“Kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội”. Đây vừa là nhiệm vụ vừa là định hướng cơ bản, cần phải được quán triệt sâu sắc và nắm vững tư tưởng chỉ đạo: Lấy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh là mục tiêu hàng đầu; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội. Khắc phục triệt để những sơ hở, thiếu sót trong việc kết hợp kinh tế và quốc phòng, an ninh tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược. Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân. KTQP góp phần “khắc phục triệt để những sơ hở thiếu sót trong việc kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược”.

Ba là,tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu KTQP trên các địa bàn chiến lược vừa là giải pháp vừa là định hướng; đồng thời, là sự thể chế hóa quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trong thực tiễn.

Bốn là,cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp quân đội, gắn với giữ vững, nâng cao năng lực sản xuất phát triển kinh tế. Thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, sự chỉ đạo của Chính phủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt việc đổi mới, sắp xếp, phát triển các doanh nghiệp quân đội và đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Qua đó, góp phần giữ vững, nâng cao năng lực sản xuất quốc phòng, ổn định, phát triển kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Phát huy kết quả đạt được, trong thời gian tới, các doanh nghiệp quốc phòng cần quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp; trên cơ sở đó, tập trung triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 425-NQ/QUTW, trọng tâm là thực hiện tốt Đề án “Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp quân đội giai đoạn 2016 - 2020”. Các doanh nghiệp quân đội, các đoàn KTQP tập trung rà soát, xây dựng chiến lược phát triển, chiến lược sản xuất, kinh doanh phù hợp với mô hình hoạt động; tích cực đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả sản xuất, kinh doanh và năng lực thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; chấp hành nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, kỷ luật của quân đội.

Năm là, ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế quốc phòng, thực hiện có hiệu quả chiến lược kết hợp kinh tế với quốc phòng trên địa bàn chiến lược. Để khai thác, sử dụng hiệu quả các tiềm năng thành nguồn lực, động lực đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng, Nhà nước và các địa phương, đơn vị cần tập trung đầu tư nguồn lực thích đáng cho các doanh nghiệp KTQP mũi nhọn, có thế mạnh trên tuyến biên giới và ở các vùng ven biển, trên các đảo và quần đảo... Trong đó, ưu tiên xây dựng các trung tâm dịch vụ, phát triển các khu KTQP mạnh có đủ khả năng kết hợp phát triển kinh tế với tạo lập thế trận phòng thủ trên tuyến biên giới, ven biển; tập trung nguồn lực, khoa học, công nghệ, nguồn lao động để khai thác có hiệu quả các tiềm năng của từng địa phương; ưu tiên phát triển hạ tầng cơ sở kinh tế với quốc phòng trên các địa bàn chiến lược, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất của nhân dân trên các tuyến biên giới, các vùng biển, đảo.

Quá trình thu hút nguồn lực để phát triển KTQP trên các vùng biển, hải đảo đòi hỏi các ngành chức năng và địa phương phối hợp nghiên cứu, khảo sát tổng thể, xác định rõ tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, từng khu vực, đánh giá đúng, đủ các yếu tố tự nhiên cũng như xu thế phát triển. Việc quy hoạch phải tính đến sự kế thừa, phát triển, tính liên kết giữa các vùng, miền; phải kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh, tạo lập thế trận phòng thủ vững chắc trên các hướng trọng điểm. 

Từ những đóng góp quan trọng của Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, Quân đội cần phải nghiên cứu những thành tựu của công nghiệp quốc phòng mang tính lưỡng dụng, để tận dụng các thành tựu của công nghiệp dân sự sang công nghiệp quốc phòng. Sự kết nối này sẽ tăng sức mạnh cho nền kinh tế đất nước và trực tiếp cho quốc phòng./.

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2020

VỀ TÍNH TẤT YẾU PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Lần đầu tiên, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã đưa ra định nghĩa tổng quát về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ Hai, 20 tháng 7, 2020

ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN TRONG PHÒNG CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI XIII

Một là, thường xuyên nâng cao nhận thức trách nhiệm về cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong tình hình mới. Đây vừa là giải pháp vừa là yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị, địa phương và cả hệ thống chính trị cùng toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân cần thấy rõ: Cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay là một nhiệm vụ chính trị vừa cấp bách, vừa thường xuyên và lâu dài. Đây là cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa tư tưởng vô sản với tư tưởng tư sản, giữa chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản với các thế lực thù địch, phản động hết sức quyết liệt. Là cuộc đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng lý luận, quan điểm của Đảng, là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ những giá trị tư tưởng, lý luận đúng đắn, cũng đồng thời, là bảo vệ những thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã đổ bao xương máu, hy sinh mới có được. Đây thực sự là cuộc đấu tranh “một mất, một còn” giữa ta và các thế lực thù địch.

Thứ Tư, 17 tháng 6, 2020

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP QUỐC PHÒNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Công nghiệp quốc phòng là một bộ phận quan trọng của công nghiệp quốc gia, một phần quan trọng của tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước. Vì vậy, xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, ngày càng hiện đại, có trình độ khoa học công nghệ cao có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần kết hợp quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, tạo cơ sở, nền tảng để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2019

YÊU CẦU VÀ ĐỊNH HƯỚNG BẢO ĐẢM, THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Việc thực hiện bản Hướng dẫn số 02-HD/TW của Ban Bí thư Khóa XII về tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận trên lĩnh vực quyền con người là nhiệm vụ vừa mang tính cơ bản, vừa mang tính cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân trong điều kiện tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến khó lường, nhất là những tác động tiêu cực của chủ nghĩa bảo hộ, cực đoan, tình hình thiên tai, dịch bệnh, xung đột sắc tộc, tôn giáo; tranh chấp lãnh thổ,... Thông qua thực hiện hướng dẫn số 02, tạo những điều kiện thuận lợi để phát triển bền vững đất nước, tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đồng thời đập tan những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng tự do, dân chủ, nhân quyền, dân tộc để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Đối với lĩnh vực quyền con người, theo Kết luận của Ban Bí thư khóa XII về tiếp tục thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 44-CT/TW, các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và đoàn thể nhân dân các cấp cần tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: 
Một là, tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặc biệt là hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người theo Hiến pháp năm 2013; đưa các quy định về quyền con người vào cuộc sống một cách hiệu quả, thiết thực, phù hợp điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Chú trọng và đẩy mạnh hơn nữa cải cách tư pháp, cải cách hành chính; mở rộng, tăng cường dân chủ ở cơ sở. Phát huy mạnh mẽ những thành tựu của công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, bảo đảm ngày càng tốt hơn và thúc đẩy quyền con người trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt giảm nghèo bền vững và bảo đảm quyền của những nhóm dễ bị tổn thương.
Hai là, đổi mới tư duy, chủ động mở rộng phạm vi, đa dạng hóa hình thức, nội dung, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục quyền con người, nhất là thông tin, tuyên truyền đối ngoại về những thành tựu bảo đảm quyền con người của Việt Nam, được cộng đồng quốc tế thừa nhận; chủ động, kịp thời đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc về quyền con người ở nước ta.
Ba là, đẩy mạnh hơn nữa hợp tác quốc tế trên lĩnh vực quyền con người nhằm thúc đẩy việc thực hiện các chính sách, pháp luật về bảo đảm quyền con người gắn với nâng cao hiệu quả tiến trình hội nhập quốc tế. Trong quá trình đó, cần tăng cường đối thoại để nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, từng bước thu hẹp bất đồng và những sự hiểu biết khác nhau giữa Việt Nam với các đối tác quốc tế trong vấn đề dân chủ, quyền con người; đồng thời kiên quyết bảo vệ quan điểm, lập trường, lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam, đấu tranh ngăn chặn một cách hiệu quả các hoạt động lợi dụng vấn đề dân chủ, quyền con người để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta./.

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2018

GIẢI PHÁP ĐỊNH HƯỚNG NHẬN THỨC CHO THANH NIÊN QUÂN ĐỘI TRƯỚC THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ MỚI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY

Một là, tiếp tục giáo dục mục tiêu, lý tưởng, đạo đức cách mạng, tinh thần tự giác trong tu dưỡng, rèn luyện kỷ luật của quân nhân. Là lứa tuổi sôi nổi, ham học hỏi, hiểu biết, sáng tạo, khám phá cái mới, mỗi thanh niên Quân đội phải nỗ lực, tự giác tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao tầm hiểu biết về mục tiêu, lý tưởng, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, tình cảm gắn bó cán bộ với chiến sĩ, quân với dân, chức trách, nhiệm vụ; không ngừng trau dồi đạo đức, nếp sống văn minh, giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc, thái độ và hành vi ứng xử có văn hóa; xung kích, tích cực đấu tranh phê phán, loại bỏ những thói quen, hành vi thiếu văn hóa trong sinh hoạt và công tác. Yêu cầu đó, đòi hỏi thanh niên Quân đội phải đi sâu vào xây dựng nền nếp chính quy, ý thức chấp hành nghiêm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội, tinh thần trách nhiệm cao trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao;  tự giác học tập, cầu tiến bộ, phấn đấu vươn lên làm chủ khoa học - kỹ thuật quân sự tiên tiến. Đồng thời, nêu cao cảnh giác cách mạng, biết phân biệt đúng - sai, ý thức tự phòng, chống các tác động xấu từ mặt trái kinh tế thị trường và âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” do các thế lực thù địch tiến hành chống phá cách mạng nước ta thông qua không gian mạng.
Hai là, đoàn viên thanh niên trong Quân đội cần được trang bị “vũ khí phòng vệ và phản công” khi tham gia mạng xã hội. Các đơn vị cần đẩy mạnh công tác giáo dục, nâng cao nhận thức cho đoàn viên thanh niên Quân đội về mạng xã hội, cách sử dụng mạng xã hội hợp lý. Tăng cường các hoạt động phổ biến, giáo dục cho đoàn viên, thanh niên tuân thủ Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, quy định của đơn vị. Động viên đoàn viên, thanh niên tự học, tự trang bị các kiến thức, kinh nghiệm sống để nhận diện thông tin xấu độc, hình thành khả năng phân tích trước các thông tin tràn lan trên mạng xã hội. Phát huy vai trò định hướng của cơ quan chính trị, tổ chức Đoàn các cấp và tính tự giác của đoàn viên thanh niên khi tham gia mạng xã hội; đề ra cơ chế kiểm soát thông tin, loại bỏ các nội dung xuyên tạc, gây bất an trong dư luận trên mạng xã hội. Định kỳ tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng công tác Đoàn và phong trào thanh niên trong Quân đội để cán bộ đoàn, đoàn viên thanh niên tham gia đấu tranh chống “Diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa; đấu tranh trên không gian mạng, v.v. Coi việc đấu tranh, phòng, chống hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, tạo ra hệ “miễn dịch” đối với mọi thông tin sai trái, xấu độc của các thế lực thù địch là thước đo kết quả xây dựng bản lĩnh chính trị của đoàn viên thanh niên Quân đội.  
Ba là, chủ động, tự giác, tích cực tuyên truyền làm cho mọi đoàn viên thanh niên Quân đội thấy rõ tính hai mặt của mạng xã hội. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp thường xuyên quan tâm, chủ động trong việc giáo dục nâng cao nhận thức cho mọi quân nhân, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục pháp luật, nhất là các quy định trong việc dùng và sử dụng mạng xã hội trong đơn vị. Tăng cường công tác quản lý, sử dụng, khai thác mạng xã hội trong việc học tập, nghiên cứu, sử dụng phải đúng mục đích; nghiêm cấm đưa các hình ảnh phản cảm lên mạng xã hội để chia sẻ. Kịp thời chấn chỉnh, nhắc nhở, xử lý, ngăn chặn những hành vi tán phát các thông tin, hình ảnh có nội dung tiêu cực, phản cảm và các biểu hiện lơ là mất cảnh giác khi tham gia mạng xã hội, không để các thông tin tiêu cực trên mạng xã hội tác động xấu tới tư tưởng, nhận thức của đoàn viên thanh niên.
Bốn là, thường xuyên đổi mới phương thức tuyên truyền để mang lại hiệu quả cao. Các cơ quan, đơn vị tích cực, chủ động đổi mới hình thức, phương pháp tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, ý thức chính trị, nhiệm vụ đấu tranh quan điểm sai trái cho mọi đoàn viên thanh niên. Khi định hướng cho cán bộ, chiến sĩ tham gia đấu tranh trên mạng xã hội cần chú ý: không sử dụng ảnh đại diện của cá nhân mang mặc quân phục, hình ảnh của đơn vị trong huấn luyện, trong sinh hoạt làm ảnh đại diện, cũng như không chia sẻ thông tin, hình ảnh trên, tránh bị các đối tượng lợi dụng làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín của quân nhân và Quân đội. Xây dựng ý thức và phong cách ứng xử có văn hóa cho cán bộ, chiến sĩ để khi tham gia mạng xã hội, không làm lộ, lọt thông tin liên quan đến quân sự trên mạng.

Thứ Năm, 19 tháng 4, 2018

TÁC DỤNG CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Quy luật giá trị là một quy luật kinh tế quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nền kinh tế của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa. Nó có tác dụng điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa, đồng thời kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, lực lượng sản xuất xã hội phát triển nhanh và thực hiện sự lựa chọn tự nhiên, phân hóa người sản xuất hàng hóa thành kẻ giàu người nghèo. Thực tiễn chứng tỏ rằng quy luật giá trị với những biểu hiện của nó như giá cả, tiền tệ, giá trị hàng hóa…là vấn đề tác động rất lớn đến đời sống kinh tế xã hội.
Đối với nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã  hội vẫn còn mang nặng tính nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất kỹ thuật còn phụ thuộc các nước khác, tuy nhiên Đảng và Nhà nước đã nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng trong việc đổi mới xã hội cũng như hiểu rõ vai trò và tác dụng của quy luật giá trị mà từ đó đã thực hiện nhiều cuộc cải cách  kinh tế… tuân theo nhưng nội dung của quy luật giá trị nhằm hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hóa xã hội chủ nghĩa đa dạng và đã đạt được những hiệu quả thành tựu đáng kể. Mặc dù vậy sự vận dụng đó còn chưa toàn diện và sâu sắc, có lúc vẫn còn dập khuôn máy móc, nên cần phải có những biện pháp khắc phục nhanh chóng những yếu kém đưa nền kinh tế phát triển nhanh chóng và bền vững.
Đất nước Việt Nam ta đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn về mọi mặt nhất là trong phát triển kinh tế, do đó chúng ta cần phải áp dụng những biện pháp phát triển kinh tế thật thận trọng, khẩn trương và làm sao để có hiệu quả nhất. Việc vận dụng quy luật giá trị vào việc phát triển kinh tế là rất quan trọng. Chúng ta cần phải thật linh hoạt trong từng vấn đề, từng lĩnh vực của nền kinh tế./.

Thứ Tư, 18 tháng 4, 2018

NHẬN THỨC VỀ PHƯƠNG CHÂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG VĂN KIỆN XII

Về phương châm và định hướng lớn của hoạt động đối ngoại, Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “...đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”.  Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác chiến lược và các nước lớn có vai trò quan trọng đối với phát triển và an sinh của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất. Chủ động tham gia và phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc. Chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh... Triển khai đồng bộ hoạt động đối ngoại, cả về chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội. Nâng cao chất lượng công tác tham mưu về đối ngoại và hội nhập quốc tế. Tăng cường công tác thông tin đối ngoại, hội nhập quốc tế, tạo đồng thuận trong nước và tranh thủ sự ủng hộ của bạn bè quốc tế đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước.   
      Đảng lãnh đạo thống nhất, Nhà nước quản lý tập trung đối với các hoạt động đối ngoại tạo nên diện mạo đa dạng với nội dung và hình thức phong phú của đối ngoại Việt Nam trong tình hình mới. Đại hội XII của Đảng đã khẳng định: “Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại. Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; giữa ngoại chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh”. Trong mỗi kỳ Đại hội, Đảng ta đều có nghị quyết lãnh đạo, định hướng để tạo nên sự nhất quán và tiếp tục thực hiện hoạt động đối ngoại. Ví dụ: Kết luận số 73 của Bộ Chính trị khóa XI về “Tăng cường quan hệ đối ngoại của Đảng trong tình hình mới”, hoạt động đối ngoại Đảng tiếp tục được triển khai chủ động, tích cực, đa dạng, đa tầng nấc từ Trung ương đến địa phương, cả kênh song phương và đa phương... trong tình hình mới, tập trung vào một số trọng tâm lớn: Phát huy vai trò chính trị, ngoại giao kênh Đảng, tiếp tục tạo nền tảng chính trị vững chắc cho sự phát triển bền vững, đi vào chiều sâu, thực chất quan hệ giữa nước ta với nước khác, nhất là các nước láng giềng có chung biên giới, các nước đối tác lớn.
Đảng ta rất chú trọng hoạt động đối ngoại với các Đảng anh em đã góp phần định hướng giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa Việt Nam với một số nước, nhất là các nước láng giềng. Trong thời điểm khó khăn, quan hệ ngoại giao giữa Đảng ta với các đảng đã góp phần hiệu quả tháo gỡ vướng mắc, khai thông bế tắc, giữ nhịp cho quan hệ nhà nước và tổng thể quan hệ chung phát triển ổn định, lành mạnh, đúng hướng. Mở rộng và tăng cường quan hệ đối ngoại đảng, đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu, hiệu quả, thiết thực. Chú trọng tới khâu đột phá là quan hệ với các đảng cầm quyền, tham chính, và những đảng có vị trí và vai trò quan trọng trong việc hình thành và triển khai chính sách của các nước đối với Việt Nam. Đồng thời, thông qua kênh quan hệ Đảng, góp phần củng cố đoàn kết nội khối, phát huy vai trò trung tâm, dẫn dắt của ASEAN trong khu vực, đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng Cộng đồng ASEAN vững mạnh. Chủ động, tích cực tham gia có hiệu quả cao vào các hoạt động đa phương chính đảng, theo đó phát huy mạnh mẽ vai trò của Đảng ta tại Hội nghị quốc tế các chính đảng châu Á (ICAPP), các hội nghị, hội thảo của các chính đảng ở các khu vực nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các chính đảng, các lực lượng chính trị đối với công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, đồng thời góp phần vào phong trào tiến bộ trên thế giới./.

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2018

CẦN HIỂU ĐÚNG VỀ TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI

Nghiên cứu âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực kinh tế, chúng ta bắt gặp không ít luận điểm tìm cách xuyên tạc, chống phá thể hiện trên nhiều góc độ, nội dung trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập ngày càng sâu rộng vào khu vực và thế giới. Các thế lực thù địch, một số kẻ cơ hội chính trị, phần tử bất mãn, suy thoái về tư tưởng,... không chỉ công kích đường lối đổi mới kinh tế mà còn dùng sức ép kinh tế đòi thay đổi bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta khi chúng ta tham gia ký kết các hiệp định kinh tế khu vực và liên khu vực. Vì vậy, việc nhận diện và đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực kinh tế, nhất là tự do hóa thương mại trong tình hình hiện nay ở nước ta là một nhiệm vụ, hình thức đấu tranh đặc biệt quan trọng. Theo đó, cần hiểu đúng, cho chắc tự do hóa thương mại ở Việt Nam.
Tự do hóa thương mại là việc dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan để làm cho luồng hàng hóa và dịch vụ di chuyển từ nước này sang nước khác được thuận lợi hơn. Tự do hóa thương mại trước hết nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu của mỗi nước và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hàng hóa và dịch vụ nước ngoài dễ dàng xâm nhập vào. Các biện pháp để mở rộng tự do hóa thương mại quốc tế bao gồm việc ký kết các hiệp định song phương và đa phương về thương mại và kinh tế; tham gia vào khu vực mậu dịch tự do và tổ chức thương mại quốc tế; chủ động xây dựng lộ trình cắt giảm thuế quan và phi thuế quan theo các cam kết; điều chỉnh chính sách hỗ trợ xuất nhập khẩu như chính sách đầu tư, tỷ giá hối đoái, tín dụng theo chiều hướng nới lỏng sự can thiệp của nhà nước; hình thành các thể chế thương mại phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Quá trình này gắn liền với các biện pháp có đi có lại trong khuôn khổ pháp lý giữa các quốc gia.
Lợi ích lớn nhất của tự do hóa thương mại là thúc đẩy trao đổi, buôn bán, phát huy lợi thế so sánh của các nước, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Đối với người tiêu dùng (bao gồm cả những nhà nhập khẩu nguyên vật liệu để sản xuất ra hàng hóa), tự do hóa thương mại sẽ tạo cho họ cơ hội lựa chọn hàng hóa tốt hơn với giá hợp lý hơn.
Nhận thức được tính khách quan của tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế quốc tế, ngay từ Đại hội VII (1991), Đảng ta đã đề ra chủ trương: “Đa dạng hóa và đa phương hóa quan hệ kinh tế với mọi quốc gia”, “Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài vào nước ta đầu tư, hợp tác kinh doanh”, và “gia nhập các tổ chức và hiệp hội kinh tế quốc tế khác khi cần thiết và có điều kiện”. Đại hội X (2006), chủ trương: Đẩy mạnh tự do hóa thương mại phù hợp các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế. Tới Đại hội XI (2011), chủ trương này tiếp tục được nâng tầm thành “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”, trong đó, Việt Nam không chỉ “là bạn, đối tác tin cậy” mà còn là “thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”; hai định hướng lớn là “phát triển thị trường hàng hóa, dịch vụ theo hướng tự do hóa thương mại và đầu tư” và “tăng nhanh xuất khẩu, giảm nhập siêu cả quy mô và tỷ trọng, phấn đấu cân bằng xuất nhập khẩu”.
Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định chủ trương tự do hóa thương mại và lồng ghép chủ trương này trong các định hướng về hội nhập quốc tế. Đại hội xác định nhiệm vụ: “Nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế, xây dựng và triển khai chiến lược tham gia các khu vực mậu dịch tự do với các đối tác kinh tế, thương mại quan trọng, ký kết và thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới trong một kế hoạch tổng thể với lộ trình hợp lý, phù hợp với lợi ích của đất nước”. Tự do hóa thương mại trên cơ sở phải giữ vững độc lập, tự chủ trong điều hành kinh tế vĩ mô, trong đó cốt lõi là bảo đảm an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh thông tin, ... mang bản sắc Việt Nam. Tự do hóa thương mại trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 

Thứ Hai, 22 tháng 5, 2017

Nhận thức mới của Đảng về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản trong đường lối phát triển kinh tế ở nước ta, một sáng tạo mới của Đảng ta về mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
 Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà nước ta xây dựng là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước; là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
Tính hiện đại và hội nhập quốc tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thể hiện ở chỗ: Kế thừa có chọn lọc những thành tựu phát triển kinh tế thị trường của nhân loại, kinh nghiệm tổng kết từ thực tiễn 30 năm đổi mới; có hệ thống pháp luật, các thiết chế, cơ chế, chính sách và các yếu tố thị trường, các loại thị trường đầy đủ, đồng bộ, vận hành thông suốt, gắn kết chặt chẽ với thị trường và các nền kinh tế trên thế giới; vai trò, chức năng của Nhà nước và thị trường được xác định và thực hiện phù hợp với thông lệ, nguyên tắc, chuẩn mực phổ biến của thế giới đương đại.
Định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế từng bước được xác lập và tăng cường thông qua sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lấy con người làm trung tâm, vì mọi người và do con người; phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển và bảo vệ tài nguyên, môi trường. Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường.

Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược, là khâu đột phá quan trọng, tạo động lực để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Hoàn thiện thể chế kinh tế phải đi đôi với đổi mới, hoàn thiện bộ máy tổ chức, cán bộ của toàn hệ thống chính trị; xác định rõ và thực hiện đúng vị trí, vai trò, chức năng và mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội phù hợp với kinh tế thị trường; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.