Hiển thị các bài đăng có nhãn tất yếu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tất yếu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022

ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ CON ĐƯỜNG TẤT YẾU CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: “Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa”.

Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đại hội toàn quốc lần thứ XI (tháng 01-2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng tôi một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Tại đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được  hiện thực hoá. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới, với tất cả sự khiêm tốn chúng ta có thể khẳng định rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam./.

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC THỰC THI QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ VÀ KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC TRONG THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ

Xã hội nào muốn tồn tại, phát triển cũng đều phải được quản trị bằng hệ thống chuẩn mực đạo đức xã hội và bằng hệ thống luật pháp, nhất là trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay. Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng diễn đạt thật dung dị, dễ hiểu, dễ nhớ về tính tất yếu phải thực hiện những chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật ở mỗi thể chế chính trị: “Chúng ta ai cũng biết, một gia đình muốn êm ấm, hoà thuận hạnh phúc thì cùng với sự dạy bảo, khuyên nhủ còn phải có khuôn phép, gia phong, nền nếp (nếp nhà): “Trên kính dưới nhường”, tôn ti trật tự, không thể vô lễ, vô phép, “cá mè một lứa”, “thượng hạ bằng đẳng”...; không có cái kiểu “Nhà kia lỗi phép con khinh bố/Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng” như cụ Tú Xương đã từng phê phán; như thế là một gia đình vô phúc. Một làng, một xã, một dòng họ cũng có hương ước, quy ước, lệ làng; một cơ quan, một công sở phải có “nội quy”; một tổ chức, đoàn thể phải có “quy chế”, có “điều lệ”...”; Một đất nước, một xã hội muốn tốt đẹp thì bên cạnh sự giáo dục, sự khuyên nhủ, càng phải có kỷ cương, phép nước, phải có pháp luật nghiêm minh để bảo vệ cái tốt, cái đúng; răn đe, trừng trị những cái xấu, cái sai, có hại cho dân cho nước, tức là phải có sự quản lý bằng cơ chế, pháp luật, phải có phép nước”.

Như vậy, quyền lực trong thể chế chính trị là vấn đề không thể thiếu để duy trì trật tự xã hội, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng nhưng quyền lực chính trị cũng có xu hướng bị lạm dụng để vun vén lợi ích cá nhân bởi những người được trao nắm quyền. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân được nhân cử ra để duy trì trật tự pháp lý đó cũng có thể lạm quyền, lộng quyền và vi phạm pháp luật và vì thế, cũng cần phải có chế tài xử lý nghiêm minh để xã hội thực sự công bằng, thể hiện thượng tôn pháp luật. Vì vậy, kiểm soát quyền lực chính trị là tất yếu khách quan đối với bất cứ thể chế chính trị nào.


Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

TÍNH TẤT YẾU LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

Cách đây 104 năm, ngày 07/11/1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công. Đây là cuộc cách mạng có giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại sâu sắc, phản ánh quy luật vận động, phát triển tất yếu khách quan của lịch sử xã hội loài người; là thắng lợi to lớn của chủ nghĩa Mác -Lênin. Mở ra thời đại mới-thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và cách mạng vô sản trên phạm vi toàn thế giới. Cách mạng Tháng Mười Nga đã đi vào lịch sử nhân loại như một sự kiện vĩ đại, có tiếng vang và tầm ảnh hưởng sâu sắc đối với việc xây dựng xã hội mới tốt đẹp - xã hội xã hội chủ nghĩa.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là kết quả hiện thực hóa lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đã biến những mơ ước, khát vọng sống hòa bình, độc lập, tự do thành hiện thực sinh động ở nước Nga và phát triển thành hệ thống xã hội chủ nghĩa sau chiến tranh thế giới thứ hai (1945). Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã cổ vũ các dân tộc bị áp bức trên thế giới đoàn kết lại, đứng lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công, vì sự tiến bộ xã hội.

Do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu lâm vào khủng hoảng trầm trọng và sụp đổ năm 1991, gây ra những tổn thất to lớn cho lực lượng cách mạng thế giới. Tuy nhiên sự kiện này không phải dấu chấm hết cho lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, càng không thể là sự “kết thúc lịch sử” của Chủ nghĩa Mác - Lênin, như một số người đã tuyên bố. Cách mạng Tháng Mười Nga không phải là “một sai lầm của lịch sử” mà trái lại đó là sự lựa chọn đúng đắn của chính lịch sử và là một tất yếu lịch sử.

104 năm đã trôi qua, kể từ ngày Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi, khoảng thời gian không dài so với lịch sử nhân loại, nhưng đủ để chúng ta nhìn nhận, đúng đắn tầm vóc, giá trị lịch sử, ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như những khó khăn thử thách trên con đường hiện thực hóa lý tưởng cao cả đó; giữ vững quyết tâm đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái, phản động, bảo vệ những giá trị trường tồn mà Cách mạng Tháng Mười Nga mang lại. Đó là nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng của những người cộng sản và nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới.

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM MỞ RA TRANG SỬ MỚI CHO DÂN TỘC VIỆT NAM

Trong thời gian ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời giữa “một rừng” đảng phái chính trị ở Việt Nam. Không ồn ào như các đảng trên ra đời từ sớm, mà trái lại, Đảng lặng lẽ hiện diện, thậm chí phải tạm lánh ở nước ngoài, vì Đảng “là con nòi” của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, được hun đúc bởi truyền thống yêu nước thương nòi Việt Nam, dưới ngọn cờ của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nguyện chiến đấu và hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đảng Cộng sản bị kẻ thù vây bủa, đàn áp đẫm máu, bị các đảng khác đương thời chèn ép, tranh đoạt sự ảnh hưởng. Trong 15 năm đầu, bao lần Đảng bị thực dân Pháp vây ráp, khủng bố trắng, hàng nghìn đảng viên của Đảng bị tù đầy, chém giết, hàng vạn đồng bào bảo vệ Đảng bị bắt bớ, lưu đầy, chỉ riêng 31 Ủy viên Trung ương của Đảng đã bị thực dân Pháp “tặng” cho 221 năm tù khổ sai. Nhiều Tổng Bí thư của Đảng bị thực dân Pháp tử hình... Lịch sử của Đảng 15 năm đầu được viết bằng máu đào và xương trắng đảng viên, chiến sĩ, đồng bào cuộc đấu tranh song trùng: Giữa Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và chế độ phong kiến bán nước của chúng và giữa các đảng chính trị Việt Nam trong việc giành vị thế cầm quyền đất nước... Tất cả được thử thách qua sự sàng lọc, lựa chọn và đào thải của lịch sử, của nhân dân. Đó là khí phách Việt Nam. Điều đó ai cũng đều thấy.

Một đảng cộng sản như thế xứng đáng là một đảng gánh vác sứ mệnh lịch sử, đứng mũi chịu sào trước nhân dân, dẫn dắt dân tộc. Vì sự thật Đảng vốn là “đứa con nòi” phải thuộc về dân tộc, phải là của nhân dân và đảm đương sứ mệnh “phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”, dẫn dắt đất nước thực thi trọng trách nhân dân giao phó: Độc lập dân tộc và CNXH. Đảng Cộng sản Việt Nam là người kết tinh, chung đúc những tố chất của một đảng vô sản kiểu mới và thực tế đủ bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ lãnh nhiệm trọng trách ấy của đất nước đặt ra và được nhân dân tin theo và hy sinh vì nó. Và Đảng trở thành một đảng dẫn dắt dân tộc và sau nay trở thành một đảng cầm quyền. Không một lực lượng chính trị nào Việt Nam lúc bấy giờ và bây giờ đủ tầm nhìn chính trị, bản lĩnh chính trị có thể làm nổi, không một ai có đủ chính danh cho tới tận hôm nay để có thể, dù cả gan, dù bất chấp đạo lý và pháp lý, làm vấy bẩn nó.   

Sinh ra trong lòng dân tộc và đồng hành cùng dân tộc bẻ gãy gông xiềng nô lệ quàng lên cổ đất nước, giành lại độc lập cho Tổ quốc, lập nên chính quyền của nhân dân, và Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Điều đó làm nên địa vị lịch sử một cách tự nhiên và địa vị pháp lý của Đảng một cách tất yếu. Vấn đề quan trọng hơn hết và quyết định tất thảy là, địa vị cầm quyền đó của Đảng đã được bảo đảm bởi năng lực cầm quyền và uy tín cầm quyền trên thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam suốt hơn 91 năm qua; và, vị thế nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hơn 76 năm qua, dưới ngọn cờ của Đảng, trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và trọng thị.

Vì không có trọng trách gì nặng nề và vẻ vang hơn, dù trong hoàn cảnh nào, Đảng luôn là đội tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam-giai cấp đại biểu cho yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất tiên tiến. Đảng không có lợi ích nào cao hơn rằng, Đảng là đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Vì Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Mục tiêu phấn đấu của Đảng không có gì khác ngoài “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong vị thế vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành “Đảng ta”, “Đảng của chúng ta”, “Đảng của dân tộc chúng ta”... Đó là đạo lý Việt Nam. 

Và đi trên con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) tới cái đích cao quý ấy được Đảng Cộng sản Việt Nam vạch ra ngay lúc mới ra đời. Qua hơn 76 năm cầm quyền, Đảng cùng toàn dân tộc xây dựng nên một nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã và đang giữ một vị thế mới trên trường quốc tế mà bất cứ ai cũng thấy. Qua 35 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta càng trưởng thành toàn diện. Trước thềm Đại hội XII của Đảng (tháng 1-2016), dư luận quốc tế nhận định: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là chính đảng duy nhất cầm quyền là một mô hình thành công đặc biệt và mô hình này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các nước đang phát triển vì rất nhiều mô hình đã được thử nghiệm, nhưng chưa thấy mô hình nào thành công”.

Trọng trách cầm quyền của Đảng, vinh dự được cầm quyền của Đảng trước nhân dân là do lịch sử dân tộc giao phó và được nhân dân Việt Nam thừa nhận, ủy thác và tin theo, chứ tuyệt đối không phải “từ trên trời rơi xuống” hay sự sắp xếp chủ quan của bất cứ ai, sự ngộ nhận của bất cứ giai cấp, tầng lớp nào.

Nhân đây, cần được nói thêm về một số ý kiến lưỡng lự hoặc công kích về chuyện một đảng hay đa đảng và vấn đề dân chủ ở Việt Nam. Rằng, từ những năm 40 tới những năm 90 của thế kỷ 20, cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, ở nước ta, còn có hai đảng là Đảng Dân chủ Việt Nam (ra đời ngày 30-6-1944 và tự giải tán vào ngày 20-10-1988) và Đảng Xã hội Việt Nam (ra đời ngày 22-7-1946 và tự giải tán tròn 42 năm sau đó, ngày 22-7-1988) đều thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng dân tộc Việt Nam tranh đấu vì một nước Việt Nam độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng CNXH. Nghĩa là, Việt Nam đã từng và có một thời kỳ lịch sử không ngắn, ngót nửa thế kỷ, sau khi dân tộc giành lại nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân được hưởng nền tự do, cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, đã từng có nhiều đảng chính trị khác hoạt động và tự giải tán, chứ đâu phải câu chuyện hão về “đảng toàn trị”, “độc đảng” hoặc đâu cần ai khuyến nghị “muốn có dân chủ, phải đa đảng”(!).

Tới đây, lại nhớ và nhắc lại lời người xưa, rằng nếu như đem dục vọng, tạp niệm của mình lắng xuống, có đạo lý nào mà chúng ta không thể thông suốt? Rằng, nếu đem chí hướng của mình mạnh mẽ khơi dậy, có việc gì mà ta không thể làm? Mấy vị ngày nay ấy, danh chính gì mà luận chính danh hay chính pháp về Đảng, khi các vị chỉ biết ôm trong lòng sự kiêu ngạo vô lối mà quan sát sự tình, mang tinh thần uể oải sa sút, thậm chí đem con mắt hạt đậu mà định luận sự việc, chẳng qua cũng chỉ là hồ đồ sống hết cuộc đời mình. Chỉ thế mà thôi!

Có thể nói gọn lại, lịch sử dân tộc Việt Nam sinh ra Đảng Cộng sản Việt Nam, đến lượt mình, Đảng đáp lại yêu cầu của lịch sử dân tộc, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về quy mô, tốc độ, chiều sâu của công cuộc phát triển đất nước và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại. Đó là biện chứng phát triển tự nhiên và tất yếu của dân tộc Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là nhu cầu phát triển tất yếu của đất nước hiện nay, trên con đường độc lập dân tộc và CNXH, dưới ngọn cờ của Đảng. Đó là tính tất yếu cầm quyền của Đảng, tính chính danh, chính pháp, bảo đảm tư cách pháp lý và đạo lý để Đảng cầm quyền.

Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

SỰ LỰA CHỌN TẤT YẾU

Theo các tài liệu chính thức ở Việt Nam, ngày 5-6-1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành - đang làm phụ bếp với tên gọi là Văn Ba - đã theo tàu Amiral Latouche Tréville rời bến cảng Sài Gòn đi Marseille (Pháp) mở đầu cuộc hành trình tìm con đường cứu nước của một người thanh niên yêu nước sau này trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là một sự kiện lịch sử và cũng là một sự thật lịch sử không thể phủ nhận.                        

Song vẫn có quan điểm cho rằng, Nguyễn Tất Thành khi đó ra đi không phải để tìm đường cứu nước mà là để mưu sinh và họ đã đưa ra nhiều bằng chứng cho quan điểm này mà bằng chứng chủ yếu là bức thư ngày 15-9-1911 của Nguyễn Tất Thành gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp xin vào học Trường Thuộc địa. Họ lập luận rằng Nguyễn Tất Thành xin vào học ở Trường này để sau này ra làm quan như một số học sinh của Trường này sau khi tốt nghiệp. Họ dựa vào một số đoạn trong bức thư  như đoạn sau đây (trong bản được  dịch ra tiếng Việt): “Tôi xin trân trọng thỉnh nguyện lòng hảo tâm của ông ban cho tôi đặc ân vào học nội trú Trường Thuộc địa… Tôi mong muốn trở nên hữu ích cho nước Pháp”. Một bức thư gửi Tổng thống Pháp với lời lẽ như trên thì việc suy luận rằng Nguyễn Tất Thành xin vào học Trường Thuộc địa để sau này làm việc cho chính quyền Pháp là điều dễ hiểu. Hơn nữa, Trường  Thuộc địa do Chính phủ Pháp thành lập năm 1885, ngoài số học sinh người Pháp, mỗi năm còn có 20 học sinh được Toàn quyền Đông Dương chọn cử đi học lấy từ học sinh của 3 nước trong Đông Dương khiến cho suy luận nói trên có tính hợp lý nhất định.          

Thế nhưng suy luận nói trên không phải là duy nhất. Từ bức thư nói trên người ta còn có suy luận khác với những bằng chứng được nhiều công trình nghiên cứu nêu ra để khẳng định Nguyễn Tất Thành ra đi từ Cảng Sài Gòn ngày 5-6-1911 là để tìm đường cứu nước.

1- Ngay từ khi là một học sinh, Nguyễn Tất Thành đã tận mắt chứng kiến cuộc sống cực khổ của người dân dưới ách thống trị của thực dân Pháp cũng như những hành động tàn bạo của thực dân Pháp đối với những người yêu nước đấu tranh chống lại chúng. Tại quê hương mình, Nguyễn Tất Thành được biết nhiều sĩ phu yêu nước đã lập các đội quân khởi nghĩa chống Pháp như cụ Hoàng Xuân Hành lập căn cứ chng Pháp ở Thanh Chương bị giặc bắt và tra tấn đến chết, cụ Hoàng Phan Thái chiêu tập nghĩa binh chống Pháp ở Nghi Lộc bị giặc bắt và chém đầu… Còn ở Huế, tháng 4-1908 một cuộc biểu tình ôn hoà của nông dân mà Nguyễn Tất Thành có tham gia đòi giảm sưu, giảm thuế cũng bị đàn áp dã man - một số người bị chém đầu tại chỗ, nhiều người bị cầm tù và bị đày biệt xứ. Sau vụ này, Vua Thành Thái bị phế truất và bị đày ở đảo Reunion (Pháp). Tình cảnh đó đã thúc đẩy Nguyễn Tất Thành phải tìm con đường mới để cứu dân, cứu nước.                  

2-Nguyễn Tất Thành khi lớn lên đã được sự giáo dục của các thầy giáo có tinh thần yêu nước. Khi ở làng Kim Liên, Nguyễn Tất Thành học chữ Hán ở nhà thầy giáo Vương Thúc Quý - người đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan. Tại đây thầy Quý đã dạy Nguyễn Tất Thành tư tưởng yêu nước, thương dân và chí làm trai phải giúp ích cho đời… Khi học ở Trường Tiểu học Vinh, Nguyễn Tất Thành hằng ngày đều nhìn thấy các từ “Liberté  - Egalité - Fraternité” gắn trên các bảng đen của Trường khiến anh muốn “tìm hiểu những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”. Khi học ở Trường Quốc học Huế - một trường đặc biệt lúc bấy giờ với quy định tuyển chọn học sinh nghiêm ngặt - Nguyễn Tất Thành đã được nhiều thầy giáo của trường giáo dục tinh thần yêu nước, không quên trách nhiệm đối với đất nước. Cũng tại Trường này, Nguyễn Tất Thành được làm quen với loại sách Tân thư chứa đựng tư tưởng cải cách của Khang Hữu Vy và Lương Khải Siêu ở Trung Quốc cùng với một số sách báo tiến bộ của phương Tây do các thầy giáo yêu nước cung cấp. Nhờ đó, lòng yêu nước vốn có của Nguyễn Tất Thành đã được khơi dậy, nuôi dưỡng và thôi thúc chí hướng ra nước ngoài tìm đường cứu nước.      

3- Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước trong bối cảnh đất nước đang bị thực dân Pháp đô hộ với chính sách cai trị hết sức tàn bạo đã được  phản ánh trong cuốn sách của Nguyễn Ái Quốc “Lên án chủ nghĩa thực dân Pháp”. Cũng trong thời gian này các phong trào yêu nước tiếp tục lan rộng. Kế tiếp phong trào Cần Vương vào cuối thế kỷ 19 do Vua Hàm Nghi đứng đầu với gần 20 cuộc khởi nghĩa từ Tây Bắc đến Khánh Hoà, sang đầu thế kỷ 20, phong trào chống thực dân Pháp đã bước sang giai đoạn mới với sự tham gia của các tầng lớp nhân dân, được tập hợp trong nhiều tổ chức với những nhà lãnh đạo có uy tín như phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xưởng, phong trào “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” do Phan Chu Trinh đứng đầu, cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám chỉ huy… Mặc dù các phong trào, các cuộc khởi nghĩa đó đều thất bại nhưng đã tác động sâu sắc đến tình cảm, tư tưởng của Nguyễn Tất Thành và đã đặt ra câu hỏi lớn trước Nguyễn Tất Thành: Con đường nào để cứu nước?”. Sau này trong cuốn “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” có ghi lại: “Anh khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trình, Phan Bội Châu nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của mỗi người nào. Anh thấy rõ và quyết định con đường nên đi”.                                       

Có thể nói, với những điều tận mắt chứng kiến khi còn là một học sinh, với những kiến thức và tư tưởng được sớm tiếp nhận tại các trường đã học, lại sống  trong bối cảnh của đất nước đầu thế kỷ thứ 20 đã đưa Nguyễn Tất Thành đến một sự lựa chọn lịch sử là “muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”. Đó cũng là một sự lựa chọn tất yếu.

Lựa chọn đó đã đập tan mọi luận điệu xuyên tạc, phản động của các thế lực thù địch về việc Nguyễn Tất Thành khi đó ra đi không phải để tìm đường cứu nước mà là để mưu sinh./.

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2021

CƠ SỞ LÝ LUẬN KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI LÀ CẦN THIẾT, TẤT YẾU VÀ KHÁCH QUAN

Vấn đề Đảng Cộng sản cầm quyền là một trong những nội dung quan trọng được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đề cập. Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: giai cấp công nhân là giai cấp cách mạng nhất, tiên tiến nhất, giai cấp có sứ mệnh lịch sử đào huyệt chôn CNTB. Nhưng muốn thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình thì giai cấp công nhân phải có “đội tiên phong với lý luận tiên phong và hành động tiên phong” để lãnh đạo. Đội tiên phong chính là Đảng Cộng sản - bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh, chính đảng của giai cấp công nhân ra đời là một đòi hỏi tất yếu khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp cần có lực lượng lãnh đạo giai cấp thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của mình. Ph.Ăngghen cho rằng, Đảng Cộng sản ra đời là điều kiện tiên quyết để bảo đảm cho cách mạng XHCN giành thắng lợi và thực hiện được mục tiêu cuối cùng của nó là thủ tiêu giai cấp.

Kế thừa tư tưởng trên của Mác - Ăngghen, Lênin khẳng định: “Về nguyên tắc, Đảng Cộng sản phải giữ vai trò lãnh đạo, đó là điều không còn phải nghi ngờ gì nữa”(1). Bởi Đảng Cộng sản là đội tiên phong giác ngộ có tổ chức, và là tổ chức chặt chẽ nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chỉ có Đảng Cộng sản mới có đủ phẩm chất chính trị và năng lực, xứng đáng là người lãnh đạo xã hội mới. Lênin cũng chỉ rõ: “Đảng Cộng sản…. cầm quyền tức là Đảng không chỉ lãnh đạo Nhà nước mà là lãnh đạo cả xã hội”. Và trong điều kiện cầm quyền đó, Đảng phải là “trí tuệ, danh dự và lương tâm của thời đại”.

Giải đáp vấn đề “Cách mệnh trước hết phải có cái gì?”, Hồ Chí Minh chỉ rõ “trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững mạnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đây là một bước ngoặt lịch sử trọng đại, chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về tổ chức và đường lối của cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. “Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”.

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2020

VỀ TÍNH TẤT YẾU PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Lần đầu tiên, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã đưa ra định nghĩa tổng quát về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

TÍNH TẤT YẾU CỦA CHÍNH SÁCH CỘNG SẢN THỜI CHIẾN

Một là, đáp ứng yêu cầu thực tiễn nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười.
Nhà nước Xô-viết - chế độ xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới đã ra đời ở nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười năm 1917. V.I. Lê-nin cùng Đảng Cộng sản Nga đã lãnh đạo xây dựng CNXH từ một nền kinh tế lạc hậu và kiệt quệ, lại bị 14 nước tư bản đế quốc bao vây, các lực lượng phản động ở trong nước chống phá… 
Hai là, thực chất của chính sách cộng sản thời chiến. “Chính sách cộng sản thời chiến” (thực hiện từ năm 1918 đến đầu năm 1921) thực chất là một biện pháp tình thế, thích ứng với trạng thái ngặt nghèo, khi Nhà nước Xô-viết phải đương đầu với thù trong, giặc ngoài.
Ba là, nội dung của chính sách cộng sản thời chiến. Để huy động các nguồn lực cho những nhu cầu cấp thiết, các biện pháp mệnh lệnh hành chính thiên về việc sử dụng quyền lực nhà nước để trưng thu lương thực, thực phẩm và các tư liệu sản xuất, kiểm soát việc sản xuất và phân phối sản phẩm nhằm phục vụ cho nhu cầu quốc phòng và dân sinh… đã được ban bố và thực hiện. Nhiều nguồn lực cho nhu cầu quốc phòng và dân sinh cấp thiết đã được huy động, qua đó giúp củng cố và phát triển sức mạnh của chính quyền Xô-viết.
Bốn là, thực tiễn cách mạng nước Nga đã chứng minh.
Mặc dù vậy, sau một thời gian thực hiện, phương pháp mệnh lệnh hành chính đã bộc lộ bất cập trong hoàn cảnh cụ thể của nước Nga đương thời. Tình trạng trì trệ đã xuất hiện, thậm chí đã có cả những phản ứng gay gắt của xã hội, như “vụ nổi loạn Cronxtat”. 

Thứ Hai, 26 tháng 3, 2018

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA XÃ HỘI LOÀI NGƯỜI

Mỗi quốc gia, dân tộc có đặc điểm lịch sử, điều kiện kinh tế, xã hội, thể chế chính trị khác nhau thì có nhà nước pháp quyền khác nhau. Nhà nước pháp quyền đề cập đến phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước dưới góc độ pháp luật, mà pháp luật thì bao giờ cũng mang tính giai cấp và tính đặc thù của mỗi nhà nước, mỗi dân tộc; do đó, phương thức tổ chức xây dựng và vận hành của nhà nước pháp quyền sẽ thể hiện cụ thể khác nhau về bản chất chế độ chính trị, hệ thống quan điểm, mục đích nhiệm vụ của từng thời kỳ phát triển hoặc điều kiện cụ thể của mỗi nước, chứ không có mô hình, tiêu chí về nhà nước pháp quyền đồng nhất cho tất cả các nước khác nhau.
Nhà nước pháp quyền ngoài các giá trị phổ biến còn bao hàm các giá trị đặc thù của mỗi một quốc gia, dân tộc. Mỗi một quốc gia, dân tộc, tùy thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp, không thể có một nhà nước pháp quyền chung chung như một mô hình chung thống nhất cho mọi quốc gia, dân tộc. Do vậy, các quốc gia theo chế độ xã hội chủ nghĩa chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng là điều bình thường, không có gì là trái với quy luật khách quan cả.
Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Đảng Cộng sản là người lãnh đạo toàn diện, mọi mặt xã hội, lãnh đạo cả hệ thống chính trị, nhưng Đảng Cộng sản cũng là một thành viên trong hệ thống chính trị, mọi hoạt động của Đảng, cũng như hoạt động của mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức của Đảng và nhà nước đều phải tuân thủ nghiêm Hiến pháp và pháp luật. Không có một tổ chức, hoặc cá nhân nào có thể đứng trên, hay đứng ngoài pháp luật được.

Thứ Bảy, 25 tháng 11, 2017

Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là tất yếu khách quan


Sự ra đời của nhà nước pháp quyền đã đánh dấu sự phát triển của xã hội loài người, là nhà nước được xem xét dưới góc độ pháp luật, mà pháp luật luôn mang tính giai cấp, là sự hiện thực hóa ý chí của giai cấp thống trị, buộc các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội tuân theo. Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, ý chí của giai cấp thống trị thống nhất với ý trí và nguyện vộng của đa số người dân, nên pháp luật được xây dựng dựa trên cơ sở ý trí, nguyện vọng của người dân, đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng hợp pháp của người dân. Đó là nhà nước của dân, do dân, vì dân và do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nhưng bên cạnh đó, vẫn còn một số người do hạn chế về nhận thức hoặc bất đồng về chính kiến đã có quan điểm không đúng khi cho rằng: “đã có pháp quyền, tại sao phải xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, hay “trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì Đảng, nhà nước, cán bộ, công chức của Đảng, nhà nước đứng ngoài pháp luật”… Mục đích của các quan điểm này nhằm phủ nhận các giá trị của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, ca ngợi nhà nước pháp quyền của các nước phương Tây. Trước những luận điệu đó, cần nhận thức đúng đắn một số vấn đề sau:

Mỗi quốc gia, dân tộc có đặc điểm lịch sử, điều kiện kinh tế, xã hội, thể chế chính trị khác nhau thì có nhà nước pháp quyền khác nhau. Nhà nước pháp quyền đề cập đến phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành bộ máy nhà nước dưới góc độ pháp luật, mà pháp luật thì bao giờ cũng mang tính giai cấp và tính đặc thù của mỗi nhà nước, mỗi dân tộc; do đó, phương thức tổ chức xây dựng và vận hành của nhà nước pháp quyền sẽ thể hiện cụ thể khác nhau về bản chất chế độ chính trị, hệ thống quan điểm, mục đích nhiệm vụ của từng thời kỳ phát triển hoặc điều kiện cụ thể của mỗi nước, chứ không có mô hình, tiêu chí về nhà nước pháp quyền đồng nhất cho tất cả các nước khác nhau.
Như vậy, Nhà nước pháp quyền ngoài các giá trị phổ biến còn bao hàm các giá trị đặc thù của mỗi một quốc gia, dân tộc. Mỗi một quốc gia, dân tộc, tuỳ thuộc vào các đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển mà xây dựng cho mình một mô hình nhà nước pháp quyền thích hợp, không thể có một nhà nước pháp quyền chung chung như một mô hình chung thống nhất cho mọi quốc gia, dân tộc. Do vậy, các quốc gia theo chế độ xã hội chủ nghĩa chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng là điều bình thường, không có gì là trái với quy luật khách quan cả.
Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, các đảng phái, tổ chức, tôn giáo, công dân phải được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nhà nước pháp quyền là nhà nước được xem xét dưới góc độ pháp luật, trong đó tính tối cao của pháp luật được tôn trọng, các tư tưởng và hành vi chính trị, tôn giáo... của bất cứ tổ chức hoặc cá nhân nào cũng được giới hạn bởi khuôn khổ pháp luật và chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Đảng Cộng sản là người lãnh đạo toàn diện, mọi mặt xã hội, lãnh đạo cả hệ thống chính trị, nhưng Đảng Cộng sản cũng là một thành viên trong hệ thống chính trị, mọi hoạt động của Đảng, cũng như hoạt động của mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức của Đảng và nhà nước đều phải tuân thủ nghiêm Hiến pháp và páp luật. Không có một tổ chức, hoặc cá nhân nào có thể đứng trên, hay đứng ngoài pháp luật được.



Thứ Hai, 18 tháng 9, 2017

Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là tất yếu khách quan

Nhà nước pháp quyền là một trong những giá trị xã hội quý báu được tích lũy và phát triển trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền phát triển không ngừng, là thành quả của nhân loại, nó hình thành và phát triển cùng với sự tiến bộ xã hội và cho đến nay đã được thế giới thừa nhận về mặt lý luận như một học thuyết về nhà nước pháp quyền. Hiện nay các nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa đang nỗ lực xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Việc xác định mục đích, nội dung, phương hướng và biện pháp xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không chỉ được đông đảo người dân ở các nước này, mà còn cả những người dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới đồng tình, ủng hộ.
Nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà là giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ. Xuất phát từ nhu cầu, khát vọng của con người mong muốn có một xã hội tiến bộ, công bằng, không có áp bức, bóc lột mà ở đó pháp luật giữ vị trí thượng tôn trong xã hội mà các nhà hiền nhân trí sĩ đã hướng con người tới việc phải xây dựng cho được Nhà nước pháp quyền là tổ chức chính trị của nhân dân, bảo đảm chủ quyền của nhân dân là nhà nước tôn trọng, thực hiện và bảo vệ được các quyền tự do, dân chủ của công dân chịu trách nhiệm trước công dân về những hoạt động của mình, còn công dân phải thực hiện các nghĩa vụ đối với nhà nước và chịu trách nhiệm pháp lý về những hành vi vi phạm pháp luật của mình; bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước trong mọi tổ chức, hoạt động của nhà nước... Đồng thời, còn xuất phát từ bản chất và tính ưu việt của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong việc đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ cho mọi người dân trên các phương diện khác nhau của đời sống xã hội, mà vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã chủ nghĩa đặt ra như một tất yếu khách quan. Không chỉ có vậy, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa luôn chứa đựng những rủi ro bởi sự chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, cùng với đó những biểu hiện của tệ quan liêu, tham nhũng, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên cần có những cơ chế, chính sách, điều luật đủ mạnh để răn đe, phòng ngừa, ngăn chặn, tiêu diệt những hiện tượng đó, đảm bảo cho pháp luật của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực thi đi vào thực tiễn cuộc sống, phát huy được tác dụng của mình.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền mang bản chất của giai cấp công nhân. Đó là nhà nước tổ chức, quản lý, điều hành xã hội trên cơ sở hiến pháp và pháp luật với mục đích đảm bảo quyền lực cho nhân dân. Giá trị xã hội của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là việc tạo ra một hệ thống các quan hệ bảo đảm sự thống trị của pháp luật trong tất cả các lĩnh vực xã hội. Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền lực thực sự thuộc về nhân dân lao động, điều này được quy định một cách khách quan từ cơ sở kinh tế và chế độ chính trị của chủ nghĩa xã hội. Khi nhân dân được làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì đương nhiên mọi công dân đều có quyền lực. Toàn bộ hoạt động của nhà nước từ pháp luật, cơ chế, chính sách đến những nguyên tắc tổ chức đều thể hiện quan điểm của giai cấp công nhân, nhằm từng bước thực hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân, phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc. 

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

“Đảng lãnh đạo kinh tế” là một tất yếu khách quan

Thời gian qua, trước những  hạn chế, khó khăn của đất nước, dựa vào những sự kiện thực tế, như: lạm phát, giảm phát, sự suy giảm tốc độ tăng trưởng, thất nghiệp, tham nhũng và các tiêu cực, tệ nạn xã hội, một số quan điểm cho rằng, “Đảng không lãnh đạo kinh tế”. Đây là một quan điểm sai trái, xuyên tạc thực tế lịch sử. Cả lý luận khoa học và thực tiễn lịch sử đã khẳng định “Đảng lãnh đạo kinh tế”  là một tất yếu khách quan 
Quan điểm “Đảng không lãnh đạo kinh tế” đã lẫn lộn hiện tượng với bản chất, tạo ra ranh giới giả tạo giữa kinh tế và chính trị, gieo rắc sự mù mờ trong nhận thức về chính trị, coi Đảng chỉ nên tự khuôn mình trong phạm vi “chính trị”, Đảng không nên can dự vào kinh tế, để kinh tế theo quy luật, mệnh lệnh của thị trường, để cho các nhà quản lý, quản trị nhà nước và doanh nghiệp đảm trách. Từ đó bộc lộ những mưu toan thâm độc, tinh vi hòng làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra những thẩm thấu tiêu cực và sai lầm trong đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, thì mọi vấn đề về cuộc sống của nhân dân, về sự ổn định và phát triển đất nước, cả đối nội và đối ngoại đều thuộc về nội dung, thẩm quyền và trách nhiệm lãnh đạo của Đảng. Đây là những lĩnh vực của tồn tại và phát triển con người và xã hội, đất nước và dân tộc, trong hiện tại và tương lai, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội gắn liền với bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa mà Đảng phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Đó là trọng trách lịch sử của Đảng, do dân tộc và nhân dân ủy thác. Điều 4, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

Thực tiễn cho thấy, Đảng ta hoàn toàn có năng lực, kinh nghiệm và bản lĩnh lãnh đạo Nhà nước và trên mọi lĩnh vực của xã hội. Đó là điều không ai có thể phủ nhận. Kể từ khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội, trong đó có 30 năm Đảng lãnh đạo và tổ chức thực hiện đường lối đổi mới, chưa bao giờ Đảng xem nhẹ, buông lỏng vấn đề lãnh đạo kinh tế. Trái lại, nhờ chú trọng lãnh đạo kinh tế, bảo đảm sự đúng đắn và nhất quán về quan điểm chính trị trong lãnh đạo kinh tế mà Đảng ta đã giải quyết thành công nhiều nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế quan trọng ở tầm chiến lược, vĩ mô, tạo ra những đột phá trong đổi mới, mở cửa và hội nhập, đưa đất nước phát triển với thế và lực như hiện nay. Hơn nữa, từ những trải nghiệm thực tiễn trong lãnh đạo kinh tế và quản lý kinh tế, Đảng đã từng bước trưởng thành về năng lực, không ngừng đổi mới phương thức và phương pháp lãnh đạo; tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển lý luận, đường lối lãnh đạo kinh tế - một lĩnh vực trọng yếu, huyết mạch của lãnh đạo xã hội.