Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là nhân tố quan trọng để đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong tiến trình lịch sử, giai cấp công nhân luôn là lực lượng tiên phong của cách mạng Việt Nam, góp phần làm rạng rỡ thêm truyền thống vẻ vang của dân tộc. Đặc biệt, sau 35 năm đổi mới, giai cấp công nhân Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đang có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế, là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022
GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM LÀ LỰC LƯỢNG QUAN TRỌNG TRONG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CỦA XÃ HỘI
Giai cấp công nhân nước ta là lực lượng đặc biệt quan trọng duy trì và
phát triển hoạt động sản xuất, tạo ra khối lượng lớn sản phẩm công nghiệp, đóng
góp chủ yếu vào ngân sách Nhà nước, góp phần quan trọng tạo nên thành tựu to
lớn và có ý nghĩa lịch sử trong 35 năm đổi mới.
Bước vào thời kỳ đổi mới, các ngành kinh tế nước ta, nhất là lĩnh vực công nghiệp gặp nhiều khó khăn. Giai cấp công nhân kiên trì khắc phục khó khăn, duy trì và phát triển hoạt động sản xuất, dần thích ứng với cơ chế quản lý mới, nâng cao năng suất lao động, tạo ra khối lượng sản phẩm công nghiệp, đóng góp chủ yếu vào ngân sách Nhà nước. Công nhân là lực lượng lao động trực tiếp thúc đẩy “Sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi, giá trị gia tăng ngành công nghiệp, xây dựng tăng bình quân 6,9%/năm; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong cơ cấu công nghiệp tăng… Giá trị ngành công nghiệp, xây dựng năm 2011 tăng 6,68%, năm 2012: 5,75%, năm 2013: 5,43%, năm 2014: 7,14%, năm 2015: 9,29%”. Giá trị ngành công nghiệp hàng năm tăng cao, trong đó có công sức, trí tuệ của giai cấp công nhân, đóng góp chủ yếu vào giá trị tổng sản phẩm trong nước (GDP), góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.
Thứ Ba, 8 tháng 12, 2020
QUỐC HỘI BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT LÀ ĐÚNG ĐẮN, CẦN THIẾT
Như vậy, Quân đội ta tham gia lao động sản xuất, xây dựng
kinh tế là cần thiết, đúng chủ trương của Đảng, phù hợp với thực tiễn, phù hợp
yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đất đai giao cho quân đội quản lý, vừa phục
vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, vừa là tư liệu sản xuất thiết yếu, là cơ sở
quan trọng để quân đội tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc
phòng. Các đơn vị quân đội cần sử dụng đất để trồng trọt, chăn nuôi, tăng gia sản
xuất. Các doanh nghiệp quân đội, các đoàn kinh tế-quốc phòng cần đất để đặt trụ
sở hoạt động; xây dựng nhà máy, kho xưởng phục vụ hoạt động sản xuất, kinh
doanh; xây dựng nông, lâm, ngư trường... Do vậy, việc Quốc hội ban hành Nghị
quyết về thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản
lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất,
xây dựng kinh tế là hoàn toàn phù hợp với chủ trương của Đảng, phù hợp với thực
tiễn và cần thiết.
Trái với luận điệu xuyên tạc của những kẻ chống phá, rằng
quân đội chỉ muốn “giữ đất”, không chịu giao đất phục vụ phát triển kinh tế-xã
hội ở địa phương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã nhiều lần khẳng định: Bộ Quốc phòng
sẵn sàng chuyển giao đất cho địa phương quản lý nếu vị trí đất đó không thực sự
cần thiết cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Thực tế, quân đội đã bàn giao hàng
chục nghìn héc-ta đất, trong đó có nhiều vị trí đất “vàng” cho địa phương quản
lý, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương. Tuy nhiên, những diện tích
đất có vị trí quan trọng phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng thì không thể
giao lại cho địa phương, vì khi phát sinh tình huống sẽ rất khó thu hồi kịp thời
để thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Trong điều kiện bình thường, khi
chưa phát sinh tình huống quân sự, quốc phòng, những diện tích đất ấy được dùng
cho lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, góp phần tăng tiềm lực quân sự, quốc
phòng. Khi phát sinh tình huống, diện tích đó được sử dụng ngay cho nhiệm vụ
quân sự, quốc phòng. Thực hiện như vậy cũng sẽ tránh diện tích đất quốc phòng bị
lấn chiếm như thực tế đã xảy ra ở một số nơi, sau đó việc thu hồi đất bị lấn
chiếm rất gian nan, phức tạp.
Việc sử dụng đất quốc phòng vào hoạt động kết hợp kinh
tế với quốc phòng là đúng chủ trương của Đảng, có tính lịch sử, kế thừa, gắn liền
với quá trình xây dựng, phát triển quân đội qua nhiều thời kỳ. Dù trong thời kỳ
nào, Bộ Quốc phòng luôn quán triệt và yêu cầu khi sử dụng đất quốc phòng vào hoạt
động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế phải tuân thủ nguyên tắc kết hợp chặt
chẽ giữa kinh tế với quốc phòng, phù hợp với quy hoạch, phù hợp với chức năng,
nhiệm vụ của quân đội; bảo đảm nguyên tắc ưu tiên hàng đầu cho nhiệm vụ sẵn
sàng chiến đấu và dự trữ lâu dài nguồn đất đai phục vụ nhiệm vụ quốc phòng-an
ninh, để kịp thời sử dụng khi có tình huống xảy ra. Do đó, luận điệu xuyên tạc
rằng quân đội giữ đất là vì lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm là hoàn toàn sai trái,
cần phải được nhận diện để phản bác.
Có thể thấy, việc Luật Biên phòng Việt Nam; Nghị quyết
về tham gia lực lượng Gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc; Nghị quyết về
thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng
đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh
tế, đều được Quốc hội thông qua với tỷ lệ tán thành rất cao, trong đó có nghị
quyết đạt tỷ lệ tán thành 100% số đại biểu tham gia biểu quyết, chứng tỏ việc
chuẩn bị các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tới quốc phòng được chuẩn bị
kỹ lưỡng, khoa học và toàn diện, hợp hiến, hợp lý và hợp lòng dân. Kết quả nói
trên cũng cho thấy sự đồng tình, ủng hộ của đại biểu Quốc hội và nhân dân đối với
các vấn đề quốc phòng. Đó là cơ sở quý báu để tiếp tục nâng cao sức mạnh của
nền quốc phòng toàn dân, vì mục tiêu bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
QUÂN ĐỘI THAM GIA SẢN XUẤT, XÂY DỰNG KINH TẾ LÀ PHÙ HỢP VỚI THỰC TIỄN NƯỚC TA
Thực tiễn cho thấy, trong suốt 76 năm qua, Quân đội ta
luôn thực hiện tốt cả 3 chức năng "đội quân chiến đấu", "đội
quân công tác" và "đội quân sản xuất", được Đảng, Nhà nước và
nhân dân đánh giá cao.
Trước hết, tất cả các đơn vị quân đội đều thực hiện
tăng gia sản xuất. Ngay cả những nơi đóng quân trong điều kiện rất khắc nghiệt
như ở các đảo xa, bộ đội vẫn trồng rau xanh, chăn nuôi gia súc, gia cầm và hải
sản để cải thiện bữa ăn. Nhờ hoạt động tăng gia sản xuất, chất lượng bữa ăn của
bộ đội được cải thiện rõ rệt, góp phần nâng cao thể lực và hiệu quả huấn luyện,
học tập của cán bộ, chiến sĩ.
Thời gian qua, thực hiện chủ trương của Đảng, các
doanh nghiệp thương mại, dịch vụ hoạt động kinh tế đơn thuần đã được chuyển
sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, thoái vốn, cổ phần hóa... Các doanh nghiệp
còn lại do quân đội quản lý đều đang tham gia thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc
phòng. Tuy nhiên, trong điều kiện bình thường, sản xuất phục vụ nhiệm vụ quân sự,
quốc phòng của các doanh nghiệp này chỉ đạt một phần công suất thiết kế của dây
chuyền công nghệ và năng lực lao động, sản xuất của công nhân, thu nhập thấp rất
khó giữ chân người lao động. Để tránh lãng phí nguồn lực, việc kết hợp nhiệm vụ
xây dựng kinh tế để tạo thêm việc làm, thu nhập cho người lao động, tăng nguồn
thu để đóng góp thêm vào ngân sách nhà nước, tạo nguồn lực đầu tư đổi mới dây
chuyền công nghệ để quay lại phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng tốt hơn là rất
cần thiết. Thực tế, hầu hết các doanh nghiệp quân đội triển khai thực hiện nhiệm
vụ theo hướng kết hợp, lưỡng dụng đều đã phát huy hiệu quả, thực sự “giữ vị trí
then chốt trong nền kinh tế quốc dân”, đóng góp rất lớn cho ngân sách nhà nước.
Các doanh nghiệp quân đội đóng góp vào ngân sách nhà nước khoảng 41.000 tỷ đồng
mỗi năm, tạo công ăn việc làm cho khoảng 145.000 lao động, trong đó có nhiều
thương hiệu hàng đầu, đóng góp ngân sách hàng đầu và cũng đi đầu trong đổi mới
công nghệ trong đội ngũ các doanh nghiệp Việt Nam. Điển hình như Tập đoàn Công
nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel), Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn, Tổng công
ty Trực thăng Việt Nam...
Mô hình đoàn kinh tế-quốc phòng được xây dựng từ năm 1999, đến nay đã có nhiều đoàn kinh tế-quốc phòng ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo. Các đoàn kinh tế-quốc phòng là lực lượng tại chỗ giúp dân xóa đói, giảm nghèo; tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng; giúp nhân dân tiêu thụ nông sản; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp phần bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc... Các đoàn kinh tế-quốc phòng có vai trò quan trọng trong công cuộc gìn giữ an ninh trật tự, an toàn xã hội, phát triển kinh tế-xã hội ở những địa bàn đặc biệt khó khăn mà hầu như không có doanh nghiệp nào ngoài quân đội muốn đầu tư. Có thể nói, các đoàn kinh tế-quốc phòng, các doanh nghiệp quân đội ở địa bàn khó khăn, là điển hình trong thực hiện 3 chức năng của quân đội, vừa lao động sản xuất, vừa làm công tác vận động quần chúng và cũng là đội quân chiến đấu khi có tình huống.
Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2020
CHỨC NĂNG THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT ĐƯỢC KHẲNG ĐỊNH TRONG THỰC TIỄN XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU, TRƯỞNG THÀNH CỦA QUÂN ĐỘI
Hơn 75 năm qua cho thấy, trong bất cứ điều kiện nào,
dù khó khăn đến đâu, Quân đội ta cũng vừa chiến đấu, vừa lao động sản xuất,
tham gia xây dựng kinh tế bằng những hình thức, biện pháp sáng tạo, phù hợp, hiệu
quả. Trong kháng chiến chống Pháp, với vô vàn khó khăn chồng chất, trước hết là
ăn, mặc, tiếp đến là trang bị vũ khí…, nếu không có các đơn vị quân đội tham
gia lao động sản xuất, chế tạo vũ khí, khí tài, đạn dược…, liệu Quân đội có thể
hoàn thành được nhiệm vụ mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó! Trong chiến
tranh chống Mỹ, cứu nước, hậu phương lớn miền Bắc vừa tiến hành công cuộc cải tạo,
phục hồi kinh tế từ một nước sản xuất nhỏ, manh mún, lạc hậu trong điều kiện
chiến tranh, vừa chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam, nếu các
đơn vị quân đội không tham gia lao động sản xuất, không có các căn cứ hậu cần tại
chỗ trên chiến trường miền Nam, nhất là ở các địa bàn chiến lược như: khu 5,
Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ,... đặc biệt là Bộ đội Trường Sơn, Quân chủng
Hải quân để xẻ núi, bạt đèo, xây dựng hàng chục ngàn cây số đường bộ, đường
sông, đường ống, đường biển, mở các tuyến vận tải chiến lược chi viện cho chiến
trường miền Nam và nước bạn Lào, Cam-pu-chia, liệu có thể có Chiến thắng của
ngày 30 tháng 4 lịch sử!
Sau ngày 30 tháng 4, đất nước hoàn toàn thống nhất
cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước
ra sức hô hào, cổ súy, viện trợ tiền của, vũ khí cho bọn ngụy quân, ngụy quyền,
bọn Fulro tăng cường hoạt động chống phá, nhằm lật đổ chính quyền cách mạng. Một
lần nữa, Quân đội lại tiên phong trên các mặt trận, vừa phải làm tròn chức năng
là đội quân chiến đấu bảo vệ thành quả cách mạng, vừa là đội quân xung kích vào
những nơi khó khăn, nguy hiểm nhất, cùng cả nước xây dựng kinh tế, hàn gắn vết
thương chiến tranh. Đồng thời, kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng thế trận
quốc phòng toàn dân; giữa xây dựng thế trận quốc phòng với phát triển kinh tế,
góp phần cùng cả nước từng bước vượt qua khó khăn, thách thức để bước vào hội
nhập và giao lưu quốc tế với uy tín và vị thế mới.
Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
trong thời kỳ mới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã quán triệt, cụ thể hóa
đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo các
đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế; trọng tâm là
Nghị quyết 71/ĐUQSTW, ngày 25-4-2002 “Về nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế của
Quân đội trong thời kỳ mới - Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả
doanh nghiệp quân đội”; Nghị quyết 520-NQ/QUTW, ngày 25-9-2012 về “Lãnh đạo nhiệm
vụ sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2020”;
Thông tư 69/2017/TT-BQP ngày 03-4-2017 của Bộ Quốc phòng ban hành Quy chế quản
lý hoạt động sản xuất, kinh doanh kinh tế của Quân đội. Trên cơ sở đó, nhiệm vụ
sản xuất, xây dựng kinh tế của Quân đội được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, có bước
phát triển toàn diện, đạt kết quả quan trọng cả về kinh tế, xã hội và quốc
phòng, an ninh.
Quán triệt quan điểm đó, các đơn vị quân đội đã phát
huy vai trò nòng cốt trong xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng thực sự là
nhân tố quan trọng trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, thực hiện chính sách
dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế, xã hội ở từng địa phương, vùng, miền gắn
với tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước; tham gia có hiệu quả xây dựng,
phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh trên các địa bàn chiến
lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, vùng căn cứ cách mạng, đẩy lùi
các hủ tục; xây dựng làng, bản văn hóa; cùng đồng bào các dân tộc xây dựng vành
đai biên giới, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Những việc làm đó góp phần
bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, dân tộc, cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn
quân xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”.
Như vậy, lao động sản xuất là một nhiệm vụ chính trị xuyên suốt của Quân đội ta, một giá trị cốt lõi làm nên nhân cách, phẩm giá “Bộ đội Cụ Hồ”. Vì thế, những luận điệu xuyên tạc của tổ chức, cá nhân thời gian qua dù vô tình hay cố ý là không thể chấp nhận và đáng bị lên án.
QUÂN ĐỘI THAM GIA LAO ĐỘNG SẢN XUẤT LÀ MỘT NỘI DUNG QUAN TRỌNG ĐÃ ĐƯỢC HIẾN ĐỊNH
Điều 68 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam (sửa đổi năm 2013) ghi rõ: “... kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế,
kinh tế với quốc phòng, an ninh...”. Điều đó cho thấy, việc kết hợp chặt chẽ giữa
kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế là quan điểm nhất quán của Đảng,
Nhà nước ta. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là của toàn dân, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc
là ở nơi dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt. Tham gia lao động
sản xuất, phát triển kinh tế của Quân đội cũng chính hướng tới mục tiêu đó.
Tuy nhiên, để hiểu tường tận vai trò, chức năng tham
gia xây dựng kinh tế của Quân đội, cần có một cách nhìn khách quan, khoa học về
vấn đề này. Trước hết, thuật ngữ “quân đội làm kinh tế” phải được hiểu dưới góc
độ tham gia lao động sản xuất, xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội; không được
hiểu với nghĩa kinh tế đơn thuần, dù doanh nghiệp đó sản xuất trong bất cứ lĩnh
vực nào. Nhận thức sai lầm, ngộ nhận dù vô tình hay cố ý đối với thuật ngữ này
chính là một sự đánh tráo khái niệm, nhằm hạ thấp vai trò, uy tín của Quân đội,
gây sự hiểu nhầm trong xã hội, chia rẽ sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ
Quân đội; giữa Quân đội và nhân dân.
Hơn nữa, mục tiêu tham gia lao động sản xuất, xây dựng phát triển kinh tế của Quân đội là: gia tăng sức mạnh của Quân đội và sức mạnh tổng hợp của quốc gia; góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, trong đó có kinh tế quốc phòng; tận dụng tiềm lực, tiềm năng của đất nước về mọi mặt; từng bước nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề, khó khăn lại được tiến hành ở những nơi xa xôi, hẻo lánh, nếu không có các đơn vị quân đội, các doanh nghiệp ngoài Quân đội khó có thể tiếp cận được. Ở khía cạnh này ta thấy, ngay từ đầu, vấn đề giữa lợi nhuận và sự toàn vẹn của lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, dân tộc đã được các đơn vị quân đội tham gia lao động sản xuất trả lời một cách dứt khoát. Với thế mạnh của mình và về nguồn nhân lực, vật tư, trang thiết bị, Quân đội tham gia sẽ phải gánh vác những nhiệm vụ chính trị xã hội mà các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp nhà nước cũng khó có thể đảm đương, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, những nơi đời sống của nhân dân còn hết sức thiếu thốn, lạc hậu. Rõ ràng, tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xã hội là một mệnh lệnh, một nhiệm vụ chính trị của Quân đội. Không chỉ tham gia lao động sản xuất đơn thuần, mà các đơn vị quân đội còn có thế mạnh là sử dụng nguồn lực có chất lượng của mình để tổ chức các lớp học văn hóa, giúp nhân dân nâng cao dân trí, xây dựng kết cấu hạ tầng, như: điện, đường, trường, trạm, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, v.v. Có thể nói, những đóng góp của cán bộ, chiến sĩ các đoàn kinh tế - quốc phòng trên lĩnh vực kinh tế, xã hội, kết hợp giữa phát triển kinh tế, xã hội với thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; giữa quân sự, quốc phòng với phát triển kinh tế, xã hội thời gian qua là rất lớn và không thể phủ nhận.