Thứ Ba, 20 tháng 9, 2016

PHẢI CHĂNG “BẢO VỆ TỔ QUỐC CHỈ LÀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ QUỐC GIA KHÔNG CẦN BẢO VỆ CHẾ ĐỘ, BẢO VỆ ĐẢNG”?

Bảo vệ T quốc xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay. Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện sự nghiệp quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát đặc điểm, tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong bối cảnh thế giới, đất nước có nhiều biến động phức tạp và đã đạt được những thành tựu rất quan trọng cả về nhận thức, quan điểm lý luận, cũng như trong tổ chức hoạt động thực tiễn. Quá trình đổi mới nhận thức, phát triển tư duy cũng chính là quá trình đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực thù địch, nhằm khẳng định, bảo vệ và thể hiện rõ hơn những nội dung của tư duy mới.
Từ nhận thức Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là thực thể thống nhất về tự nhiên và chính trị, xã hội, bao gồm toàn bộ các yếu tố địa lý, lãnh thổ, dân cư, các giá trị văn hóa, lịch sử,... và chế độ xã hội chủ nghĩa, Văn kiện Đại hội XII đã khẳng định và chỉ rõ: “Mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”[1]. Theo tư duy của Đảng, thực chất bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là bảo vệ Tổ quốc trong một chỉnh thể thống nhất: Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa. Tư duy của Đảng thể hiện rõ tính chất toàn diện, thống nhất của mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất, không thể tách rời giữa các nội dung trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ nội dung này cũng có nghĩa là góp phần bảo vệ nội dung khác, và ngược lại. Bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ gắn bó chặt chẽ với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa cũng bao hàm cả bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước.
Những quan điểm cho rằng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay “chỉ là bảo vệ đất nước, chủ quyển, lãnh thổ quốc gia”, không cần phải gắn với bảo vệ chế độ, an ninh chính trị, bảo vệ Đảng là những quan điểm thù địch, sai trái và phản khoa học. Tính chất thù địch, sai trái và phản khoa học đó thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, thực chất của những quan điểm đó là nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta, thủ tiêu lực lượng lãnh đạo và chế độ xã hội mà chỉ có nó nhân dân ta mới có được độc lập, tự do, hạnh phúc thực sự; Thứ hai, việc tách rời mặt tự nhiên và mặt chính trị, xã hội là điều không thể được đối với bất cứ tổ quốc nào. Những quan điểm đòi tách rời ra đó thực chất là nhằm hướng tới hủy hoại tính chất xã hội chủ nghĩa của mặt chính trị, xã hội của Tổ quốc Việt Nam, làm cho Tổ quốc Việt Nam của nhân dân ta mang tính chất khác, tính chất tư sản.
Tính chất nguy hiểm của quan điểm này thể hiện ở chỗ, không những nó làm cho chúng ta dễ rơi vào mất cảnh giác, trong thực tiễn bảo vệ Tổ quốc dễ dẫn đến chỉ chú trọng một chiều mặt bảo vệ này mà xem nhẹ, thậm chí bỏ qua mặt bảo vệ khác; mà còn làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa - mục tiêu, lý tưởng do chính lịch sử dân tộc ta, do chính nhân dân ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn và phấn đấu hy sinh với biết bao mồ hôi, công sức và cả máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam suốt hơn tám thập kỷ qua - trong ý thức của nhân dân và của cả cán bộ, đảng viên. Thực tế, trong chúng ta không phải không có người khi nói đến bảo vệ Tổ quốc là chỉ nói đến bảo vệ đất nước, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, “không nói đến” bảo vệ chế độ; tính từ “xã hội chủ nghĩa” có vẻ như “dị ứng” trong nhận thức, tư tưởng của một số ít người. Khẳng định sự thống nhất và gắn bó chặt chẽ giữa bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là thể hiện rõ sự kiên định về con đường và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong bối cảnh lịch sử mới trong tư duy của Đảng. Ở đây cần phải nhận thức rõ thêm, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng hàm chứa cả việc bảo vệ chế độ và sự lãnh đạo của Đảng; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và sự lãnh đạo của Đảng cũng hàm chứa cả việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Điều đó phản ánh mối quan hệ, không thể tách rời giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữa lợi ích của Đảng và lợi ích của các tầng lớp nhân dân trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta. Mọi sự tách rời giữa các mặt của các mối quan hệ đó đều là không đúng với bản chất và thực chất của mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./. 

[1] Đảng CSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr.147-148

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2016

CÁC GIÁ TRỊ CĂN BẢN TRONG QUAN NIỆM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Trong quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, mục tiêu của thời kỳ qúa độ lên CNXH là để chuẩn bị các cơ sở vật chất, tinh thần cho CNXH phát triển trên cơ sở của chính nó. Tính chất chính trị của thời kỳ qúa độ lên CNXH là sự tiếp tục đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt với những nội dung mới, bằng những biện pháp mới và trong những điều kiện mới hoàn toàn khác so với thời kỳ GCCN chưa giành được chính quyền. Đặc điểm về kinh tế - xã hội của thời kỳ qúa độ lên CNXH là tính chất “không thuần nhất” với sự “đan xen của những mảnh những bộ phận của xã hội cũ”, những “dấu vết của xã hội cũ mà nó vừa thoát thai ra” bên cạnh những mầm mống, những yếu tố vừa mới được xây dựng của xã hội XHCN.  
Theo đó, những người xây dựng CNXH phải sáng tạo khi tìm kiếm các mô hình riêng, biện pháp - con đường đặc thù, phù hợp với bối cảnh lịch sử để đi lên CNXH. V.I.Lênin đã nêu luận điểm rất có giá trị về  vấn đề này: "Tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội, đó là điều không thể tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến lên chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau. Mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội"1.
Cũng theo tư tưởng của V.I.Lê nin, việc tìm kiếm con đường đi lên CNXH là một quá trình lâu dài, khó khăn, cho nên phải kiên định, kiên nhẫn, tỷ mỉ để “làm đi làm lại nhiều lần” và mạnh dạn, khoa học để thay đổi – kể cả những vấn đề chiến lược. Nó quanh co, phức tạp và đôi khi phải biết chấp nhận cả những “con đường vòng”, biết chấp nhận những thất bại, bước lui tạm thời. Phải biết tích hợp các giá trị nhân loại, những yếu tố hợp lý của xã hội TBCN, chắt lọc những giá trị truyền thống của dân tộc… để xây dựng xã hội mới... 
Có thể khái quát thành 2 giá trị căn bản trong quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhận thức con đường đi lên CNXH 
Thứ nhất là giá trị chỉ đạo thực tiễn.
 Chủ nghĩa Mác là học thuyết không chỉ giải thích thế giới mà còn là học thuyết để cải tạo thế giới, bởi vậy, các nhà kinh điển đã rất quan tâm đến vấn đề chỉ đạo biện pháp xây dựng CNXH. Trong khi xây dựng CNXH, cùng với nhận thức rõ về tính tất yếu, đặc trưng hay mô hình của nó, các Đảng Cộng sản rất cần đến chỉ đạo về phương pháp - biện pháp, cách thức, lộ trình, v.v. và những điều đó có thể tìm thấy trong kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin. 
Mục đích quy định biện pháp, cho nên từ mục tiêu cao cả nhất của CNXH là giải phóng con người và tạo ra điều kiện cho sự phát triển tự do, toàn diện cho mỗi người và cho mọi người[1], hệ thống biện pháp, hay con đường đi lên CNXH trước tiên phải là phát triển sản xuất, phải trên cơ sở của LLSX xã hội hóa trình độ cao để có năng suất lao động cao, từ đó mới có của cải vật chất dồi dào để thỏa mãn mọi nhu cầu của mọi người. CNXH phải là xã hội giàu có sung túc chứ không phải là xã hội bình quân sự nghèo khổ. Theo đó, trong quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tất cả những gì cản trở sự phát triển của sản xuất đều là phản động với lịch sử và cần được loại bỏ. CNXH là phát triển sản xuất và mọi biện pháp mà nó áp dụng cũng trước hết là để “tăng thật nhanh LLSX lên”. Đây là giá trị phương pháp luận hàng đầu của chủ nghĩa Mác - Lênin. 
Thứ hai, là giá trị khoa học và cách mạng bao gồm phương pháp luận, định hướng và cơ sở để thẩm định những sáng kiến mới về biện pháp hay con đường xây dựng CNXH.
Với hệ thống lý luận CNXH khoa học nói chung, các  nhà kinh điển đặc biệt nhấn mạnh nhiều lần với hậu thế về ý nghĩa phương pháp luận, “kim chỉ nam” của học thuyết này. Với hàm ý khuyến khích tính sáng tạo, tránh rập khuôn giáo điều, phương pháp luận duy vật biện chứng về lịch sử với các đặc trưng tư duy: khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể… có thể được xem là định hướng chung cho tư duy về con đường đi lên CNXH.
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin bàn khá kỹ lưỡng với những lưu ý sâu sắc về tư duy biện chứng và biện pháp linh hoạt, sáng tạo. Xây dựng CNXH phải biết gắn liền nguyên lý chung “với mảnh đất hiện thực”, có thể in “dấu ấn riêng của quốc gia mình” lên quá trình xây dựng CNXH của mỗi nước. Theo đó, những người xây dựng CNXH phải sáng tạo khi tìm kiếm các mô hình riêng, biện pháp - con đường đặc thù, phù hợp với bối cảnh lịch sử để đi lên CNXH. Nó là một quá trình lâu dài, khó khăn, cho nên phải kiên định, kiên nhẫn, tỷ mỉ để “làm đi làm lại nhiều lần” và mạnh dạn, khoa học để thay đổi – kể cả những vấn đề chiến lược. Nó quanh co, phức tạp và đôi khi phải biết chấp nhận cả những “con đường vòng”, biết chấp nhận những thất bại, bước lui tạm thời. Phải biết tích hợp các giá trị nhân loại, những yếu tố hợp lý của xã hội TBCN, chắt lọc những giá trị truyền thống của dân tộc để xây dựng xã hội mới...
Tính chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác còn thể hiện ở chỗ, học thuyết khoa học này, mang tính chất “mở” và chấp nhận sự bổ sung phát triển của hậu thế. V.I.Lênin là người đầu tiên khẳng định rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống. Chúng tôi nghĩ rằng những người xã hội chủ nghĩa ở Nga đặc biệt cần phải tự mình phát triển hơn nữa lý luận của Mác, vì lý luận này chỉ đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng nguyên lý ấy thì xét riêng từng nơi, ở Anh không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không giống ở Nga.” [2]
Tính chất “Khoa học và cách mạng trong chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện cả ở hệ thống - chỉnh thể cũng như trong từng bộ phận hợp thành (Triết học, kinh tế chính trị và CNXH khoa học). Tất cả đều nổi bật ở sự gắn liền lý luận với thực tiễn. Đây là bản chất, nguyên tắc tối cao của chủ nghĩa  Mác - Lênin”[3].


1 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1976, tập 30, tr.160.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1974, tập 4, tr.232.
[3] GS,TS. Hoàng Chí Bảo, Giá trị bền vững và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê nin và chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb CTQG, H.2012, tr.365

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2016

Có phải do thể chế chính trị mà nhân dân bất hạnh và nghèo khổ?

Gần đây, có một số  bài viết đăng trên mạng cho rằng vấn đề “cấp thiết nhất ở Việt Nam hiện nay là đưa dân tộc ra khỏi “NỖI BẤT HẠNH”. Họ quy kết ngay một nguyên nhân dẫn đến “NỖI BẤT HẠNH” của dân tộc Việt Nam hiện nay là do thiết chế chính trị nên nhân dân không có tự do, là nghèo khổ. Thực chất của giọng điệu này là vẫn tiếp tục bài ca không có gì là mới mẻ, đó là: “chừng nào ở Việt Nam chỉ có độc nhât một đảng lãnh đạo thì chừng đó không thể nói tới một nền dân chủ chân chính được”(!); rằng, “ở Việt Nam muốn có dân chủ, muốn nhân dân thoát nghèo thì phải hội nhập vào xu thế đa đảng như nước ngoài họ đã từng làm”(!). Sự thật về thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay có làm cho nhân dân mất tự do dân chủ, nghèo khổ không?
Với nghĩa dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân mà  Đảng Cộng sản Việt Nam đang thực hiện nên hiểu là: Một là, chế độ dân chủ đang xây dựng ở Việt Nam là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa – một chế độ dân chủ ưu việt hơn các chế độ dân chủ đã ra đời, tồn tại trong lịch sử (cả chế độ dân chủ tư sản); hai là, thể hiện bản chất của chế độ chính trị mang bản chất của giai cấp công nhân, đây là giai cấp có lợi ích thống nhất với nhân dân lao động; ba là, đây là chế độ dân chủ có cơ chế bảo đảm phát huy quyền làm chủ thực tế cho nhân dân lao động do Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý.
Xét một cách thực chất, đảng là tổ chức chính trị của giai cấp, mang bản chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện của những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Nói cho cùng, bản chât của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, thậm chí nhiều giai cấp, sự xuất hiện của nhiều đảng là lẽ bình thường. Dù dưới màu sắc dân chủ hay cộng hòa, dân tộc hoặc tôn giáo, tên gọi có khác nhau, nhưng đảng thực chất là đảng chính trị. Đảng thực hiện mục đích chính trị của giai cấp là giành chính quyền, là cầm quyền, dưới nhiều hình thức; tùy thuộc vào điều kiện cụ thể như do tương quan lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một xã hội, mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng.
Lịch sử chứng minh không thể có đảng chính trị chung chung phi giai cấp, cũng như không thể có nền dân chủ trừu tượng “vô hạn độ”, không mang tính giai cấp... Hiện nay, xét cho cùng, hoặc chỉ có đảng vô sản hay đảng tư sản và tương ứng là dân chủ xã hội chủ nghĩa hoặc dân chủ tư sản mà thôi. Thực tế chứng minh là đảng chính trị của giai cấp tư sản cầm quyền đem lại dân chủ cho số ít giai cấp tư sản hoặc là đảng vô sản cầm quyền đem lại dân chủ cho đông đảo người lao động. Như vậy, nói tới đảng chính trị là nói tới quyền lãnh đạo xã hội, là nói tới bản chất giai cấp của đảng đó và nói tới dân chủ là nói tới bản chất của giai cấp cầm quyền quyết định, còn chính đảng chỉ giữ vai trò lãnh đạo để đạt được mục đích đó.
Cả về lý luận và thức tiễn cho thấy, khi xem xét mối quan hệ giữa đảng và dân chủ thì vấn đề đặt ra  là đảng nào cầm quyền hay lãnh đạo chính quyền, phải xem nó mang bản chất giai cấp nào? đem lại quyền lực cho ai và quyền lực đó đem lại lợi ích cho ai? Có thể là một đảng lãnh đạo, hoặc nhiều đảng tranh giành hoặc liên minh quyền lãnh đạo xã hội theo chế độ nghị trường. Thực tế chứng minh dù quốc gia nào có chế độ đa đảng nhưng thực chất cũng chỉ có sự lãnh đạo của đảng chính trị, phục tùng lợi ích của một giai cấp sinh ra và thực hiện dân chủ đối với giai cấp thống trị và mất dân chủ với giai cấp bị trị – đó là sự thật về dân chủ ở các thể chế tư sản và ở các quốc gia đa đảng!
Nói đến dân chủ tư sản là nói đến nhà nước tư sản và thứ dân chủ dành cho một số ít người giữ địa vị thống trị xã hội, tức giai cấp tư sản. Dân chủ đó, xét về quy mô: quyền làm chủ xã hội thuộc về số ít và phục vụ cho số ít; về tỉnh chất: quyền làm chủ của số ít để chống lại số đông, sự tự do của giai cấp thống trị chà đạp lên thân phận của giai cấp bị trị và nền độc lập tự do của các quốc gia, dân tộc khác; về hình thái biếu hiện: nhà nước chỉ là của số ít người, dân chủ thành hình thức, tự cho mình cái quyền phán xét người khác, tìm cớ can dự vào nước khác, vi phạm trắng trợn nền độc lập và chủ quyền của các quốc gia, dân tộc khác !!!

Về mục tiêu dân giàu, trong điều kiện nhân dân Việt Nam đã bị đô hộ kéo dài bởi hai đế quốc lớn thay nhau áp đặt để biến nước ta thành nước thuộc địa. Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đã đảm đương sứ mệnh lịch sử cao cả là lãnh đạo nhân dân chiến thắng hai đế quốc lớn để giải phóng dân tộc, đem lại quyền tự do cho nhân dân. Hậu quả chiến tranh xâm lược của đế quốc để lại cho dân tộc rất lớn, Đảng đã huy động sức mạnh tổng hợp vừa giải quyết hậu quả chiến tranh và vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, qua ba mươi năm tiến hành công cuộc đổi mới các lĩnh vực của đời sống xã hội vẫn kiên trì với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh”. Thành tựu nổi bật trong suốt ba mươi năm tiến hành sự nghiệp đổi mới là đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nước nghèo, từ năm 2010 đến nay được thế giới công nhận là nước có thu nhập trung bình và đời sống thực tế của nhân dân đã được cải thiện đáng kế, hộ nghèo giảm mạnh. Quyết tâm của Đảng Cộng sản Việt Nam, Người đứng đầu Nhà nước, Chủ tịch quốc hội, Thủ tướng, tuyên thề khi nhận chức vụ trong nhiệm kỳ 2016 – 2020, đều thể hiện rõ quan điểm vì dân, vì sự phát triển và vì lợi ích của đất nước. Mọi hoạt động của thể chế chính trị, của đất nước đều thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra”, như vậy nhân dân Việt Nam rất đang tự do, rất đang hạnh phúc thực sự; nếu ai vu khống bịa đặt sai sự thật về thể chế chính trị ở Việt Nam thì chỉ là gây “diến biến”, làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng mà thôi !!!

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2016

Phải chăng có “Những điều không thể hiểu nổi?”

Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, rất chú trọng phát huy tính ưu việt của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa và coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển đất nước. Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra, công khai minh bạch các vấn đề xã hội. Đảng, Nhà nước ta không bao giờ bao che cho các hành vi tham ô, tham nhũng, có hành vi làm trái với pháp luật và làm tổn hại đến tài sản của đất nước, niềm tin của nhân dân. Những vụ việc tham ô, tham nhũng, hai máy bay Su – 30 MK2 và CaSa - 12 của Quân chủng PK-KQ gặp nạn trên biển và việc Tập đoàn Formosa xả chất thải gây ô nhiễm ven biển miền Trung, đều được Đảng, Nhà nước chỉ đạo giải quyết kịp thời, công khai nguyên nhân của vụ việc để nhân dân cùng chia sẻ và cùng giải quyết. Mặc dù, Đảng, Nhà nước ta đã công khai minh bạch, chính xác, kịp thời về nguyên nhân của hai máy bay Su - 30 MK2 và CaSa - 12 của Quân chủng PK-KQ gặp nạn trên biển và việc Tập đoàn Formosa xả chất thải gây ô nhiễm ven biển miền Trung trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng. Mặc dù vậy, trong thời gian qua vẫn có không ít các đối tượng phản động, chống đối cực đoan đã tán phát nhiều bài viết có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc sự thật, chống lại Đảng, Nhà nước ta. Có những kẻ từ bỏ quê hương, từ bỏ đồng bào, từ bỏ Tổ quốc, đang sống lưu vong ở nước ngoài, sống bằng nghề  bồi bút lớn tiếng cho rằng  “ Những điều không thể hiểu nổi”? Phải chăng do ông ta cố ý hay do xa Tổ quốc thiếu thông tin hay lợi dụng vụ việc đó để cố tình vu khống cho Đảng, Nhà nước ta không dân chủ, không minh bạch, không giải trình một số vụ việc cho nhân dân biết...để tiếp tục bài ca không có gì xa lạ là “Đảng độc quyền lãnh đạo thì không có dân chủ”?
Lịch sử của xã hội loài người cho thấy có nhiều thuộc tính để đánh giá trình độ dân chủ của một chế độ xã hội, trong đó tính minh bạch và giải trình là một thuộc tính quan trọng. Trong thực hiện chế độ dân chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay rất chú trọng tính minh bạch, vì đó là sự thể hiện mối quan hệ giữa giai cấp công nhân cầm quyền thông qua vai trò lãnh đạo của chính Đảng, quản lý của Nhà nước với nhân dân. Không phải đến bây giờ mới xuất hiện tính minh bạch mà nó xuất hiện rất sớm, song nó cũng không phải là thuộc tính cố hữu của bất cứ xã hội nào, nhất là trong các xã hội người bóc lột người trước đây và kể cả trong xã hội tư bản chủ nghĩa hiện nay.
Theo tiếng Việt nên hiểu Minh bạch, xét dưới góc độ hành động là động từ, dùng để chỉ những hành động thể hiện sự rõ ràng, rành mạch trong bất cứ công việc nào. “Minh bạch - rõ ràng”; còn xét dưới tính chất của sự việc, trạng thái của hành động thì minh bạch còn là tính từ, trạng từ, với nguyên gốc của từng từ cụ thể có thể hiểu: minh là sáng; bạch là trắng; theo đó, minh bạch cũng được hiểu với tính chất là rõ ràng. Theo tiếng Việt phổ thông: “Minh bạch. Rõ ràng, rành mạch”. Những từ đồng nghĩa với minh bạch được thừa nhận là rành mạch, sáng tỏ; còn những từ trái nghĩa cùng được hiểu một cách thống nhất là: ám muội, bất minh, khuất tất, mờ ám. Tiếng Anh, còn có các từ: clear transparent với đồng nghĩa chỉ tính chất của sự việc, hành động là trong suốt, dễ hiểu, dễ nhận thấy rõ, minh bạch...
Giải trình, trước hết theo cách hiểu thông thường thì giải trìnhgiải thích, trình bày nhằm làm sáng rõ một vấn đề gì. Trong tiếng Anh cỏ từ: Explain với nghĩa là giải thích, thanh minh. Còn trong tiếng Việt, nghĩa của “Giải trình. Trình bày, giải thích, thuyết minh”... Như vậy, giải trình được hiểu với các từ nguyên nghĩa là trình bày, giải thích, nói rõ, thuyết minh, làm sáng rõ một vấn đề gì đó.
Thực tế diễn ra hai máy bay Su - 30 MK2 và CaSa - 12 của Quân chủng PK-KQ gặp nạn trên biển và việc Tập đoàn Formosa xả chất thải gây ô nhiễm ven biển miền Trung là điều mỗi người dân yêu nước không ai muốn để xảy ra. Đảng, Nhà nước ta, các cơ quan chức năng đã công khai minh bạch nguyên nhân vụ việc trên các phương tiện thông tin đại chúng, huy động mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để khắc phục hậu quả, hỗ trợ và chia sẻ những mất mát cho những quân nhân bị nạn, ngư dân miền Trung. Hiện nay các cơ quan chức năng từ Trung ương đến các địa phương tiếp tục kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của mỗi cấp, mỗi ngành để rút ra những bài học kinh nghiệm, không để tái diễn những vụ việc tương tự. Đại diện cho Tập đoàn Formosa xả chất thải gây ô nhiễm ven biển miền Trung đã xin lỗi Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân ta, cũng đã nhận rõ trách nhiệm của mình và xin bồi thường 500 triệu USD. Ngoài ra các tổ chức chính trị - xã hội, những nhà hảo tâm đã phát huy truyền thống dân tộc “thương người như thể thương thân” đã có nhiều hoạt động quyên góp tiền, gạo để giúp đỡ đông bào ven biển miền Trung và những quân nhân bị nạn.
 Đảng, Nhà nước ta có minh bạch và giải trình công khai những vụ việc đã xảy ra trên các phương tiện thông tin nên đã thu hút được sự quan tâm chia sẻ của đồng bào trong nước và ngoài nước; đồng thời đó cũng là một trong những minh chứng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang phát huy tối đa những thuộc tính dân chủ xã hội theo phương châm là của dân, do dân và vì dân mà thường gọi là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là một chế độ xã hội mà ý Đảng, lòng dân luôn phấn đấu hướng tới và nó khác về chất so với những xã hội còn có sự bóc lột người, đặc biệt là xã hội tư bản chủ nghĩa. Điều căn bản nhất quy định mức độ phát triển của các thuộc tính minh bạch và giải trình lại chính là sự phát triển của nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Song cùng với sự phát triển của kinh tế, nhu cầu đầu tiên của đời sống xã hội sẽ kéo theo những tập quán, thói quen về minh bạch và giải trình, đòi hỏi sự phát triển thích ứng và tương thích của hệ thống luật pháp. Luật pháp định hình và được thực thi một cách nghiêm minh, thường xuyên, liên tục lại là điều kiện để minh bạch và giải trình trở thành nếp sống và văn hóa luật pháp của chế độ xã hội đó. Mặc dù là độc Đảng nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân và vì nhân dân, thường xuyên quan tâm công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng để thực sự vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức; đáp ứng ngang tầm đòi hỏi của nhiệm vụ lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Đảng Cộng sản Việt Nam là một mẫu mực thực hành dân chủ trong sinh hoạt Đảng, lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đồng bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội để từng bước thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh” ./.
                                                                       

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2016

SỰ THIÊNG LIÊNG PHẢI GIỮ GÌN ĐỘC LẬP, TỰ DO CỦA TỔ QUỐC

 Là một dân tộc đất không rộng, người không đông, nhưng trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta luôn phải đấu tranh chống lại sự xâm lược của các thế lực hùng mạnh. Các thế hệ người Việt Nam đã sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để giành và giữ độc lập, tự do cho Tổ quốc. Đó là sự hy sinh tự nguyện cho một mục tiêu chân chính, một lý tưởng cao đẹp; là hành động ái quốc của một dân tộc anh hùng - một biểu tượng ngời sáng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam.
Trong đêm trường nô lệ, các phong trào đấu tranh yêu nước vẫn liên tục nổ ra nhưng đều bị dìm trong biển máu và thất bại. Đến những năm đầu của thế kỷ XX, với khát vọng cháy bỏng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[1], Người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã bôn ba khắp năm châu bốn biển để tìm ra con đường cứu nước. Và khi thời cơ thuận lợi đã tới “dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Khát vọng và ý chí quyết giành độc lập, tự do của toàn dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc ta, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đưa nhân dân ta từ địa vị nô lệ trở thành người tự do. Thay mặt toàn thể đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”[2].
Thế nhưng, nền độc lập của dân tộc, quyền tự do của nhân dân vừa mới giành được lại đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài cấu kết với nhau nhằm bóp chết chính quyền còn non trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Hỡi đồng bào! Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”[3]. Lời kêu gọi đã động viên toàn dân tộc ta đứng lên chống thực dân Pháp. Sau chín năm trường kỳ kháng chiến, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”, toàn dân tộc tộc đã đứng lên đánh bại đế quốc, thực dân, làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, giải phóng miền Bắc.
Nhưng ngay sau đó đế quốc Mĩ lại kế chân xâm lược nước ta, chúng không cho dân tộc ta được sống trong hoà bình, độc lập, tự do. Sau 20 năm chiến đấu ròng rã, hàng chục triệu người đã hiến dâng tuổi thanh xuân, hiên ngang “Nhằm thẳng quân thù - bắn!” đã đánh bại tên đế quốc giàu mạnh nhất hành tinh. Thắng lợi đó có nhiều nguyên nhân, nhưng xét đến cùng, nguyên nhân sâu xa, đó là ý chí quyết tâm đánh Mĩ và thắng Mĩ để bảo vệ vững chắc quyền độc lập, tự do của Tổ quốc. Khi phân tích nguyên nhân thất bại của Mĩ tại Việt Nam, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kì Mắc Na-ma-ra nêu lên 11 nguyên nhân chính khiến nước Mĩ thảm bại, trong đó có nguyên nhân từ phía giới lãnh đạo nước Mĩ: “Đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc đã thúc đầy một dân tộc giàu lòng yêu nước đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó, chúng tôi thiếu sự hiểu biết cơ bản về lịch sử, văn hoá, chính trị của Việt Nam”[4].
Một dân tộc đã gan góc đấu tranh, triệu người như một, đồng tâm, hiệp lực chiến đấu kiên cường đánh bại mọi mọi âm mưu, hành động xâm lược của kẻ thù, giải phóng hoàn toàn đất nước, thống nhất Tổ quốc, đi lên chủ nghĩa xã hội. Hàng vạn người con ưu tú của dân tộc ta đã ngã xuống trên chiến trường hoặc khi trở về đã mang trên mình thương tật suốt đời, hiến dâng tuổi thanh xuân và cả cuộc sống của mình cho các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Hàng triệu thân nhân liệt sĩ đã mãi mãi không thể gặp lại những người thân yêu nhất của mình. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mãi mãi ghi tạc và đời đời biết ơn sự hy sinh, cống hiến to lớn đó.
Trân trọng, giữ gìn và phát huy giá trị của độc lập, tự do, hiện nay đại bộ thanh thiếu niên đã và đang tích cực học tập, lao động, công tác góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhưng vẫn còn một bộ phận sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội; xem nhẹ truyền thống, coi thường đạo lý, phủ nhận quá khứ. Thậm chí, có người còn lên tiếng ủng hộ các luận điệu xuyên tạc, phản động cho rằng, các cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc ta trong thế kỷ XX là “cuộc chiến tranh phi nghĩa”, là “sự hy sinh xương máu một cách vô ích”; cá biệt một số người còn bị kích động, lôi kéo tham gia các hoạt động trái pháp luật, bị các thế lực thù địch lợi dụng làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia dân tộc.
Vì vậy, để thế hệ trẻ có nhận thức đầy đủ về giá trị của độc lập, tự do; thấu hiểu những hy sinh mất mát to lớn của các thế hệ cha anh trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, cần tập trung giáo dục lịch sử dân tộc; truyền thống văn hóa của dân tộc, của Đảng; những anh hùng, liệt sĩ; những tấm gương yêu nước tiêu biểu và tuyên truyền âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta trong tình hình mới.
 Để làm được điều đó, cần tích cực hóa quá trình dạy học môn lịch sử bằng cách tái hiện một cách sinh động, có hồn những sự kiện lịch sử quan trọng. Kết hợp nhiều kênh thông tin cung cấp kiến thức lịch sử, truyền thống nhất là sách, báo, tranh ảnh, tư liệu, phim, nhạc… kích thích sự hứng thú, say mê tìm tòi, nghiên cứu về lịch sử. Sử dụng phổ biến các hình thức: tọa đàm, sinh hoạt chuyên đề, diễn đàn, thi tìm hiểu, tuyên truyền, biểu dương người tốt, việc tốt trong học tập, lao động, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc để bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, ý chí kiên cường, dũng cảm; khơi dậy ước mơ, hoài  bão lớn trong mỗi người.
Chú trọng phát huy giá trị của những chứng tích lịch sử; tăng cường các hoạt động tham quan các di tích lịch sử, căn cứ địa cách mạng; tổ chức giao lưu, nói chuyện truyền thống để thế hệ trẻ tìm hiểu về những người thật, việc thật, nhận rõ cái giá phải trả cho độc lập, tự do của dân tộc, tự hào với truyền thống của các thế hệ cha anh, soi mình vào những tấm gương tiêu biểu trong xã hội; từ đó nhận thấy trách nhiệm của mình với Tổ quốc, với gia đình và xã hội, góp sức mình xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.
Xây dựng môi trường văn hóa tôn vinh những giá trị truyền thống, lịch sử; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng chuẩn mực đạo đức, tấm gương điển hình với “chống” mọi biểu hiện, hành vi trái với đạo lý, truyền thống dân tộc. Mỗi gia đình, các cấp, các ngành và các tổ chức xã hội cần tiếp tục biểu hiện lòng biết ơn sâu sắc, sự tôn vinh đối với những người đã hy sinh vì nước bằng những việc làm cụ thể, thiết thực để thế hệ trẻ học tập, noi theo.
Đặc biệt, mỗi thanh thiếu niên cần đề cao tinh thần tự học, tự rèn; tích cực tìm hiểu về lịch sử, truyền thống của dân tộc, của quê hương; tham gia tích cực vào các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, chia sẻ giúp đỡ các gia đình có công với nước, những gia đình có hoàn cảnh khó khăn; sống thủy chung, chí nghĩa, chí tình, không bàng quang, vị kỷ cá nhân; xây dựng thái độ học tập, lao động, công tác đúng đắn; xây dựng tinh thần lao động cần cù, sáng tạo; thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện hoàn thiện bản thân; chủ động hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Có lẽ, hơn bất cứ dân tộc nào trên thế giới, dân tộc Việt Nam thấu hiểu sự vô giá của độc lập, tự do. Bởi để có hòa bình, độc lập, tự do, dân tộc ta đã phải đánh đổi bằng tính mạng, xương máu và nước mắt của lớp lớp các thế hệ người Việt Nam. Thế hệ trẻ hôm nay không có quyền quên và không được phép quên những cống hiến, hy sinh của các thế hệ cha anh, trái lại phải luôn tự hào và nguyện sống xứng đáng với các thế hệ đi trước; luôn trân trọng, giữ gìn và góp phần giữ vững độc lập, tự do của Tổ quốc; biến truyền thống thành bản lĩnh, ý chí; chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh./.




[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H. 2002, tr.161
[2] Hồ Chí Minh,  Toàn tập, Nxb CTQG, tập 4, H.2009, tr.4
[3] Hồ Chí Minh,  Toàn tập, Nxb CTQG, tập 4, H.2009, tr.480
[4] Robet Mc. Namara, Nxb CTQG, H.1995, tr.3163. Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H.2000, tập 7 (1940  - 1945) tr.113.

ĐẰNG SAU LUẬN ĐIỆU ĐỀ NGHỊ ĐỔI TÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Hiện nay, có một số người lợi dụng tự do, dân chủ trong nghiên cứu khoa học, đề xuất đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng Dân chủ Việt Nam hoặc quay trở lại với tên gọi trước đây là Đảng Lao động Việt Nam; thực chất phía sau luận điệu đó là gì?
Chúng ta đều biết, ngày 3 tháng 2 năm 1930 dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với chủ trương hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Đông Dương theo chủ trương của Quốc tế Cộng sản. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời chính là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác –Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, là sự vận dụng sáng tạo học thuyết Mác – Lênin vào điều kiện thực tiễn Việt Nam. Ngay từ tên gọi Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
 Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn dân tộc Việt Nam. Mục tiêu cao nhất của Đảng là giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân, đấu tranh vì độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và từng bước tiến tới xã hội cộng sản. Đảng là một tổ chức chặt chẽ thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh; đồng thời thực hiện các nguyên tắc tự phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Trong khi Đảng Cộng sản Việt Nam mới 15 tuổi, với hơn 5000 đảng viên đã lãnh đạo nhân dân tiến hành cách mạng tháng Tám thành công, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (ngày 2 tháng 9 năm 1945) – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Với sự quy tụ sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân giành chiến thắng vĩ đại trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, chiến thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; thống nhất đất nước, làm tròn nghĩa vụ quốc tế, đạt được “những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử” trong công cuộc đổi mới, đưa đất nước vững bước hội nhập quốc tế và đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Chủ nghĩa Mác – Lênin, là kết tinh ở tầm cao trí tuệ nhân loại, là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ; là một học thuyết cách mạng, khoa học giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới, về những quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy con người, về những con đường cách mạng để xóa bỏ chế độ bóc lột, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa cộng sản.
 Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Hơn 86 năm qua, với đường lối lãnh đạo đúng đắn, nền tảng tư tưởng vững vàng,  đội ngũ cán bộ - đảng viên luôn kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đội ngũ đảng viên của chúng ta xứng đáng với tên gọi đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng luôn coi trọng  tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận để làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đảng ta luôn luôn kiên định những nguyên lý có tính nền tảng và vận dụng đúng đắn những học thuyết đó vào thực tiễn đất nước ta; kiên quyết sửa chữa sai lầm khuyết điểm nếu mắc phải, lắng nghe ý kiến của nhân dân, đấu tranh khắc phục khuynh hướng giáo điều, quan liêu xa dân. Thực tế, có một thời kỳ lịch sử, Đảng ta có tên gọi là Đảng Lao động Việt Nam từ Đại hội II (năm 1951) đến trước Đại hội IV(năm 1976). Tuy tên gọi của Đảng khác nhau để phù hợp với từng giai đoạn lịch sử nhưng bản chất của Đảng là đội tiên phong, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân thì không hề thay đổi. Đại hội Đảng lần thứ IV, toàn thể các đại biểu đều nhất trí với tên gọi như thời kỳ đầu thành lập Đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam; đó là sự phù hợp với mục tiêu, lý tưởng và bản chất của Đảng. Hiện nay, với tên gọi Đảng Cộng sản Việt Nam với những thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử đã ghi sâu đậm trong trái tim nhân dân và bạn bè quốc tế. Do đó, việc đổi tên Đảng là sự không cần thiết, thậm chí còn gây lãng phí và tốn kém cho việc phải sửa chữa và hiệu đính lại các văn bản, giấy tờ, điều đó đi ngược lại với di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh: điều gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, điều gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh.
Thực chất đằng sau luận điệu đề nghị đổi tên Đảng là biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, xét lại dưới hình thức khác nhau, hòng làm mơ hồ ảo tưởng trong quần chúng nhân dân và xóa bỏ sự tồn tại mô hình đảng cộng sản thực chất là để tìm kiếm tuyên ngôn không cộng sản trong thế kỷ XXI. Từ việc đề nghị đổi tên Đảng đến việc từ bỏ hệ tư tưởng của Đảng là một việc làm trong gang tấc, rồi đến thay đổi điều 4 trong Hiến pháp quy định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội. Đây là những giọng điệu thể hiện một kịch bản rất sâu xa nằm trong những âm mưu, thủ đoạn thâm độc của chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch đang ra sức kích động.

Bài học rút ra từ sự đổ vỡ của Liên Xô có nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, trong đó có việc tự đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội, làm cho chế độ bị sụp đổ nhanh chóng. Do vậy ở nước ta hiện nay, ai đó có vô tình hay hữu ý, là đảng viên hay không phải đảng viên, là người trong nước hay ở ngoài nước hãy thức tỉnh và có ý nghĩ đúng về vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay cũng như mãi mãi về sau. Chúng ta có thể khẳng định rằng, không có một đảng phái chính trị mới nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo dân tộc, lãnh đạo nhân dân, đúng đắn và đạt được thành tựu vẻ vang như Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì vậy, giữ nguyên tên gọi: “Đảng Cộng sản Việt Nam”, vừa là tình cảm, vừa là trách nhiệm cao cả của mỗi cán bộ, đảng viên mà còn là lương tri và hòn đá thử tình yêu với Đảng, với dân tộc của mỗi người dân Việt Nam. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã diễn ra và thành công tốt đẹp, tiếp tục đưa ra những quyết sách rất quan trọng để lãnh đạo đất nước trong giai đoạn cách mạng mới và sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp, trong đó có nội dung tiếp tục lãnh đạo công tác xây dựng Đảng. Đảng ta từ khi ra đời đến nay đã lãnh đạo dân tộc ta giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, thực sự là một đảng “đạo đức và văn minh”, là “người lãnh đạo, người đầy tớ của nhân dân”, đang ra sức thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2016

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG THÔNG TIN XẤU, XUYÊN TẠC VỀ CUỘC BẦU CỬ QUỐC HỘI KHÓA XIV VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2016-2021


Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, sẽ được tổ chức vào ch nhật (ngày 22/5/2016). Đây là một ngày hội lớn của toàn dân – ngày mà cử tri cả nước thực hiện quyền cao cả là bầu cử để lựa chọn ra các đại biểu có đủ phẩm chất, năng lực, để tham gia đảm nhiệm có hiệu quả đến công việc của đất nước, của cấp trung ương đến các địa phương. Tuy nhiên, gần đây, trên internet xuất hiện nhiều trang mạng núp bóng “truyền thông xã hội”, đưa tin, giật tít rầm rộ, như “giúp phổ biến kiến thức cho người tự ứng cử và cử tri”, “thúc đẩy quá trình dân chủ hóa”, “cung cấp các thông tin hữu ích về ứng cử, bầu cử dành cho các ứng viên tự do và cử tri”... Thực tế nội dung của các bài viết trên là những thông tin mang tính chủ quan cá nhân, thông tin không đúng sự thật... Như một phản ứng dây chuyền, có kịch bản từ trước, một số trang mạng và báo, đài hải ngoại của tổ chức phản động nước ngoài (Đối thoại, Đàn chim Việt, RFI, RFA..., đã từng đăng tải các tin bài xuyên tạc về Đại hội lần thứ XII của Đảng), tăng cường đăng tải những bài viết có nội dung sai trái, xuyên tạc về cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021.
          Một số người tự cho là “cấp tiến”, “yêu nước”, đã hô hào vận động tranh cử trên mạng, có nhóm lập facebook “Vận động ứng cử đại biểu Quốc hội 2016” nhưng hoạt động như một tờ báo điện tử, ngang nhiên cử người xưng là “phóng viên” đi phỏng vấn, viết bài “đánh bóng”, lăng xê một số người tự ứng cử thuộc nhóm “xã hội dân sự”. Các cá nhân này đã vi phạm các quy định của pháp luật: điều 20, Nghị định 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý hoạt động thông tin điện tử trên internet; điều 65, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân: Về hình thức vận động bầu cử, có hai hình thức: Gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri tại hội nghị tiếp xúc cử tri ở địa phương nơi mình ứng cử và thông qua phương tiện thông tin đại chúng (được quy định tại điều 67 của Luật này).
          Một s trang mạng và đài, báo nước ngoài đưa ra các luận điệu xuyên tạc: “Cuộc bầu cử này là không chính danh, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”. Họ bày tỏ rõ ý định phá hoại cuộc bầu cử, “Hãy tranh cử để ít nhất là làm cho Đảng phải mệt hơn, tốn tiền đối phó”(!). Trên trang của cái gọi là “Hội nhà báo độc lập Việt Nam” họ phát động “thảo luận đầu xuân” về tự ứng cử đại biểu Quốc hội và đưa ra tuyên bố yêu cầu “xóa cơ chế Đảng cử, dân bầu”...Thực tế chứng minh, chính những người đưa ra các luận điệu trên đã quên mất rằng, mỗi quốc gia có một thể chế chính trị khác nhau và ở Việt Nam, việc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cuộc bầu cử đã được hiển định rõ ràng trong điểm 1, điều 4, Hiến pháp năm 2013 “Đảng Cộng sàn Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
Thông qua việc tự ứng cử đại biểu Quốc hội ở một số các khóa gần đây cho thấy, tại kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII (năm 2007) có 30 người tự ứng cử, Quốc hội khóa XIII (năm 2011) có 82 người tự ứng cử. Số người tự ứng cử được lọt vào vòng chính thức để kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII (18%) cao hơn kỳ Quốc hội khóa XII (12%). Đáng chú ý là, có người 2 lần liền tự ứng cử đại biểu Quốc hội đều trúng. Tại kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV này, cả nước đã có 154 người tự ứng cử, tăng nhiều hơn so với các nhiệm kỳ trước. Điều đó đã bác bỏ một số ý kiến quy chụp cho rằng, bầu cử đại biểu Quốc hội ở Việt Nam chỉ là sân chơi “độc diễn” của Đảng, không có cửa cho các ứng cử viên tự đo (!).
        Trong thời gian gần đây, trên mạng xã hội và đài, báo nước ngoài xuất hiện nhiều thông tin về việc những người tự ứng cử bị “gây khó dễ”, “phân biệt đối x; thậm chí có người còn cho rằng “đang có một chiến dịch “tẩy chay”, “đấu tố” những người tự ứng cử”... Vậy, sự thực là gì? Một số cá nhân tự ứng cử đại biểu Quốc hội khỏa XIV kỳ này mà họ muốn tham gia, có người là thành viên Đảng Dân chủ Việt Tân, đã tham gia phiên điều trần tại Hạ viện Mỹ; và đã tụ tập đông người trái pháp luật (vi phạm Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 18-3-2005 của Chính phủ)... Ngoài ra, còn có người tự ứng cử có nhiều phát ngôn, bài viết trên mạng xã hội có nội dung thiếu văn hóa, phản cảm, cổ vũ các đối tượng nhân danh và lợi dụng bảo vệ chủ quyền biển, đảo, bảo vệ môi trường… tụ tập đông người gây rối nơi công cộng. Việc làm của họ được chính quyền nơi cu trú ghi nhận xét vào lý lịch, được nhân dân nơi cư trù đóng góp, phê bình và không tín nhiệm, không thể coi là bị phân biệt đối xử, bị đấu tố.
Cần phải khẳng định rằng, tiến trình bầu cử Quốc hội ở nước ta tuân thủ một quy trình chặt chẽ, dân chủ, bình đẳng, khách quan, với tinh thần “thượng tôn pháp luật”. Thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, hướng dẫn bầu cử của Bộ chính trị (khóa XI), thủ tướng Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các ban ngành, đoàn thể Trung ương… đến nay, công tác chuẩn bị cho cuộc bầu cử đã hoàn tất, đảm bảo đúng tiến độ, tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật. Sau khi kết thúc ba vòng hiệp thương, ngày 26/4/2016, Văn phòng Quốc hội đã họp báo công bố danh sách 870 người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV. Trong đó, đại biểu do Trung ương chiếm tỷ lệ 38,97%; 204 người dân tộc thiểu số, chiếm 23,34%; 268 người dưới 40 tuổi, chiếm 30,80%; 97 người ngoài Đảng chiếm 11,155; 11 người tự ứng cử.
Niềm vui của toàn Đảng, toàn dân ta trên khắp mọi miền Tổ quốc, không khí náo nức đợi chờ ngày hội lớn đã thể hiện, lan tỏa trong mỗi người dân Việt Nam. Thành công của cuộc bầu cử sẽ tạo cơ sở vững chắc để nhân dân ta tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời, đó cũng là bằng chứng thuyết phục nhất để bác bỏ các luận điểm sai trái, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng ta có thể thấy rằng, trong thời gian trước ngày bầu cử và sau bầu cử, các thể lực thù địch sẽ vẫn tiếp tục xuyên tạc chống phá cuộc bầu cử với nhiều hình thức, thủ đoạn… với tinh thần cảnh giác và kiên quyết của mỗi người dân Việt Nam thì những âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch sẽ bị vạch trần và không thể thực hiện được mưu đồ xấu xa của chúng. Thực tế cho chúng ta thấy, với lịch sử 70 năm phát triển và không ngừng hoàn thiện, Quốc hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng với kỳ vọng của nhân ta. Qua XIV lần bầu cử đã diễn ra trong lịch sử dân tộc, luôn thể hiện sự tôn trọng quyền tự do dân chủ của mỗi cử tri, các quy trình theo đúng luật pháp; do vậy, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 tất yếu thành công tốt đẹp, là một bước tiến để đi đến mục tiêu: dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.