Thứ Năm, 6 tháng 10, 2016

PHẢI CHĂNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC LÀ MỘT THỨ TÔN GIÁO; MỘT THỨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHÔNG TƯỞNG?

Cuộc đấu tranh bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa giai cấp tư sản và giai cấp tư sản là điều hiển nhiên bởi nó khác nhau về bản chất và lợi ích; nhưng đáng buồn là trên thực tế một số kẻ nhân danh là "hiền sỹ"; "con lạc cháu hồng" lại đi rêu rao rằng: chủ nghĩa xã hội khoa học của Mác - Lênin cũng chỉ là một thứ tôn giáo, một thứ chủ nghĩa xã hội không tưởng.
Tư duy, lập luận, bảo vệ "con đường chính trị" của mình thì tùy vào nhãn quan chính trị, bản lĩnh, lập trường, quan niệm và lợi ích của mỗi người hoặc (nhóm người).
Vậy chủ nghĩa xã hội khoa học có phải là một thứ tôn giáo; là học thuyết không tưởng? Sự thật về mặt lý thuyết và học thuật xin phép không cắt nghĩa, nhưng hãy thử làm một phép so sánh đã được kiểm nghiệm trên thực tế sẽ thấy sự khác nhau rất cơ bản về bản chất giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với tôn giáo; giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với chủ nghĩa xã hội không tưởng:
Thứ nhất, sự khác nhau giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với tôn giáo:

Sự khác nhau
Tôn giáo
CNXHKH
1. Thế giới quan
Duy tâm
Duy vật
2. Lực lượng thay đổi xã hội
Thần thánh
Lực lượng chính trị là giai cấp công nhân
3. Phương pháp
Tu hành
Đấu tranh
4. Kết quả
Hơn 2000 năm, không thay đổi được xã hội
Gần 1 thế kỷ tạo ra thời đại mới: từ CNTB lên CNXH
Thứ hai, sự khác nhau về chất giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với chủ nghĩa xã hội không tưởng:
Sự khác nhau
CNXH Không tưởng
CNXH Khoa học
1. Cơ sở kinh tế kỹ thuật
Kỹ thuật thủ công trong nông nghiệp, tiểu công nghiệp
Công nghiệp hiện đại, xã hội hóa ngày càng cao
2. Cơ sở chính trị - xã hội
Nhân dân lao động bị áp bức bóc lột nói chung (nông dân, thợ thủ công…)
Giai cấp công nhân hiện đại
3. Cơ sở nhận thức
Nhận thức cảm tính
Nhận thức khoa học
4. Phương pháp
Cải lương xã hội
Cách mạng xã hội
5. Hiệu quả
Chủ nghĩa xã hội không tưởng phát triển tỷ lệ nghịch với phong trào công nhân
Phát triển cùng sự phát triển của phong trào công nhân, thực hiện bước tiến trong giải phóng xã hội


Từ hai bảng so sánh trên cho thấy, chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời là bước phát triển về chất trong dòng chảy tư tưởng xã hội chủ nghĩa của nhân loại. Do đó không thể đồng nhất chủ nghĩa xã hội khoa học với một thứ tôn giáo nào đó hoặc là chủ nghĩa xã hội không tưởng. Kính mong các "hiền sỹ" – những người vốn tự xưng danh "vì nước, vì dân" nghiên cứu, suy xét.

CẦN NHẬN RÕ LUẬN ĐIỆU: "VIỆT NAM KHÔNG CẢI TỔ SẼ SỤP ĐỔ"

     Lâu nay các thế lực thù địch của cách mạng Việt Nam luôn rêu rao cái gọi là “Việt Nam phải cải tổ”, “Không cải tổ sẽ sụp đổ”.Dường như họ đang cố gắng đem những “cái mang tính hiện tượng” để quy về “cái bản chất”, nêu lên một giả định của sự cải tổ ở Việt Nam, trong khi bản thân họđã thực sự hiểu bản chất của quá trình cải tổ hay chưa?
      Cải tổ, đổi mới - nguyên tắc thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội. 
     Tuy không trùng khít về nội hàm khái niệm song tựu trung lại đổi mới, cải cách, cải tổ đều có hệ mục tiêu về lý luận và mục tiêu thực tiễn.
     Vấn đề đặt ra là cải tổ để làm gì? Đối với Việt Nam chúng ta, một quốc gia luôn vận dụng trung thành, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, coi cải cách, cải tổ, đổi mới là nguyên tắc sống còn của chế độ xã hội chủ nghĩa và là đòi hỏi khách quan để phát triển đất nước. Đổi mới toàn diện, đồng bộ, có lộ trình, “đổi mới nhưng không đổi màu”, đổi mới để xác lập hệ thống quan điểm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội và để xã hội xã hội chủ nghĩa từng bước được xác lập vững chắc làchủ trương nhất quán.
Mục tiêu của cải cách, cải tổ, đổi mới không phải quốc gia nào, giai cấp thống trị nào cũng giống nhau và không phải đất nước nào đổi mới, cải tổ cũng thành công, thậm chí còn bị trả giá đắt cho tính vô nguyên tắc, tùy tiện trong cải cách, cải tổ.Vào những năm 80, 90 thế kỷ XX, ở Liên Xô do nhận thức thiếu đúng đắn về điểm xuất phát của cải tổ, việc lấy cải tổ chính trị làm xuất phát  đã làm nảy sinh các làn sóng “tính công khai”, “phê bình và tự phê bình trong tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”, “dân chủ hóa toàn diện đời sống xã hội”, những thành tựu lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội Liên Xô sau 70 năm bị đánh đổ từ sai lầm này.
     Sự thành công của cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc (khởi xướng năm 1978); hay công cuộc đổi mới của Việt Nam từ năm 1986, đã đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi; Việt Nam được xem là điểm đến an toàn, hấp dẫn đối với bè bạn quốc tế. 
     Đừng lấy “cái hiện tượng” để quy về “cái bản chất”
    Trong khi các phần tử cơ hội chính trị nêu lên những hiện tượng để cố thuyết giảng về sự bất đồng, mâu thuẫn ở Việt Nam càng chứng tỏ ông không có cái nhìn biện chứng và khách quan. Vốn dĩ, sự xuất hiện các mặt đối lập, các mâu thuẫn ở các sự vật, hiện tượng, kể cả các hiện tượng xã hội là tất yếu khách quan;Trong một quốc gia sự tồn tại những khác biệt, những hiện tượng sai trái là điều dễ hiểu; vấn đề làphải nhận biết mâu thuẫn trong xã hội đó là cơ bản hay không cơ bản, chủ yếu hay thứ yếu, bên trong hay bên ngoài… Vấn đề không phải là sợ có mâu thuẫn mà là ở chỗ giải quyết mâu thuẫn đúng đắn, triệt để nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
     Họ đang vô tình hay hữu ý lờ đi sự biến động, xung đột, mâu thuẫn ở các nước trên thế giới trong khi đề cập đến những hiện tượng ở Việt Nam?
     Không đâu xa, Thái Lan một quốc gia gần Việt Nam đã trải qua hơn 20 cuộc đảo chính, kể từ năm 1932 đến nay, trong đó có 11 cuộc đảo chính thành công. Các vụ xả súng ở Connecticut, Oregon, California (Mỹ), Pari (Pháp) hay những bất ổn ở Lybia, Ai Cập, Syria, hiện tượng nhà nước Hồi giáo IS tự xưng đã nói lên trong các xã hội đó còn đầy rẫy những bất công, mâu thuẫn không thể điều hòa. Đó là chưa kể đến mâu thuẫn giữa giới giàu có, người nghèo khổ, tỉ lệ thất nghiệp ở các nước tư bản phát triển.Bất ổn chính trị đồng nghĩa với các mâu thuẫn, tranh chấp quyền lực, hoạt động của các băng đảng, tổ chức chính trị, ổ nhóm phạm tội xuyên quốc gia, quốc tế…Các quốc gia này mặc dù đang cố gắng để giải quyết mâu thuẫn nhưng dường như khó đem lại kết quả vì nỗ lực giải quyết mâu thuẫn của chính giới đang vướng vào vòng luẩn quẩn lập trường giai cấp.
     Trong khi đó, trên tinh thần “thượng tôn pháp luật”, cùng với sự khoan dung, độ lượng, với các hành vi sai trái Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn giải quyết có lý có tình”, hướng tới mục tiêu cao nhất là tạo nên sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc để chung tay xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Những thiếu sót, hạn chế chế trong quản lý xã hội,trong thực thi công vụ luôn được phát hiện khắc phục sửa chữa kịp thời; điển hình như vụ việc của ông Đoàn Văn Vươn, các cá nhân, tổ chức sai phạm đều nghiêm túc nhận khuyết điểm và chủ động khắc phục; hay sai phạm trong xây dựng tại toàn nhà 8B Lê Trực, trách nhiệm trong kiểm tra, giám sát được làm rõ và kiên quyết xử lý.
     Một khía cạnh nữa chứng tỏ các phần tử cơ hội chính trị có cái nhìn phiến diện, muốn đưa “cái hiện tượng thành cái bản chất” khi họ cho rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước không quan tâm đến quyền làm chủ của nhân dân. Điều này hoàn toàn trái với trong hiện thực Việt Nam. Thử hỏi rằng nếu Đảng, Nhà nước Việt Nam không tôn trọng, lắng nghe nhân dân, các tầng lớp trí thức, các nhà quản lý thì làm sao có hơn 15 triệu lượt góp ý kiến cho Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992; và hàng triệu lượt ý kiến của Đảng viên, người không phải là đảng viên đóng góp vào dự thảo văn kiện đại hội XII của Đảng. Đó là chưa nói đến cấp địa phương như thành phố Hồ Chí Minh chỉ sau 1 tháng công bố toàn văn Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố đến các tầng lớp nhân dân để lấy ý kiến đóng góp, đã có hơn 15.646 ý kiến góp ý và 189 bài viết trên các báo, đài Trung ương và Thành phố.Đến đây, chúng ta càng hiểu hơn cái “mẹo” của các thế lực thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam đó là luôn đem những cái có tính hiện tượng quy thành bản chất, mà thiếu đi cái nhìn khách quan, toàn diện đối với sự phát triển của một quốc gia dân tộc./.

Thứ Tư, 5 tháng 10, 2016

ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CƠ HỘI, XÉT LẠI LÀ VẤN ĐỀ CÓ TÍNH QUY LUẬT CỦA PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ HIỆN NAY

Trong suốt tiến trình lịch sử phát triển Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, giai cấp công nhân luôn phải tiến hành đấu tranh chống lại giai cấp tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa nhằm thực hiện mục tiêu xóa bỏ chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, giải phóng giai cấp, dân tộc, nhân loại. Cùng với quá trình đó, để phong trào tồn tại và phát triển thì giai cấp công nhân và các đảng cộng sản còn phải tiến hành một cuộc đấu tranh rất gay go và quyết liệt với một loại kẻ thù giấu mặt và trá hình, núp dưới bóng chủ nghĩa Mác để chống lại chủ nghĩa Mác và phản bội lại phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đó là chủ nghĩa cơ hội, xét lại.
Chủ nghĩa cơ hội xét lại là trào lưu tư tưởng đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin là tàn dư tư tưởng tư sản, tiểu tư sản trong Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế. Là sự hi sinh lợi ích cơ bản lâu dài của giai cấp và phong trào công nhân vì lợi ích trước mắt của một bộ phận. Thực chất đó là sự đầu hàng trước những trào lưu tư tưởng tư sản và phản bội lại chủ nghĩa Mác-Lênin. Chủ nghĩa cơ hội, xét lại tồn tại dưới nhiều hình thức biểu hiện: Về lý luận, đó là sự chiết trung, ngụy biện sẵn sàng thay đổi quan điểm tư tưởng cơ bản để trục lợi; về kinh tế, chúng mang tư tưởng thực dụng sẵn sàng đánh đổi cả phong trào vì lợi ích kinh tế trước mắt của một nhóm người; về hành động, hành động phiêu lưu, lúc tả lúc hữu, lúc thì nóng vội, lúc thì chủ quan từ bỏ mục tiêu cách mạng, thủ đoạn thì tinh vi lắt léo sẵn sàng thoả hiệp với mọi loại trào lưu khi có lợi. Chủ nghĩa cơ hội, xét lại có quá trình hình thành gắn với quá trình đấu tranh giữa hai hệ tư tưởng tư sản và vô sản, giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế với các trào lưu phi xã hội chủ nghĩa, các quan điểm sai trái và các hành động chống phá cách mạng của các thế lực thù địch.
Cuộc đấu tranh này là một quá trình thường xuyên liên tục có những lúc Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế phải chịu đựng những hậu quả tai hại do chủ nghĩa cơ hội, xét lại gây lên làm kìm hãm phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa, cản trở sự phát triển của nhân tố cách mạng vô sản, làm chệch hướng sự phát triển của phong trào cách mạng và phá vỡ tính thống nhất của phong trào, cắt xén, bóp méo, xuyên tạc dẫn đến phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin trên nhiều phương diện.
Lợi dụng chủ nghĩa xã hội đang lâm vào khủng hoảng thoái trào, Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế đang gặp khó khăn thử thách, chủ nghĩa Đế quốc và các thế lực phản động đang điên cuồng chống phá chủ nghĩa cơ hội, xét lại đẩy mạnh chống phá Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế. Đây cũng là biểu hiện để chúng ta nhận rõ bộ mặt nham hiểm và những âm mưu thủ đoạn thâm độc xảo quyệt của chúng.

Đối với cách mạng Việt Nam hiện nay mặc dù chủ nghĩa cơ hội xét lại với những biểu hiện chưa rõ nét nhưng những phần tử cơ hội xét lại luôn cấu kết với bọn phản động trong và ngoài nước, các thế lực phản động quốc tế nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ chí Minh, đòi đa nguyên về chính trị, đa Đảng đối lập, đòi từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trước sự thoái hoá của một bộ phận cán bộ đảng viên, tình trạng tham nhũng, lãnh phí đang hoành hành và những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng của chúng ta những phần tử cơ hội xét lại tiếp tục lợi dụng chống phá. Vì vậy chúng ta phải kiên quyết chống lại chủ nghĩa cơ hội, xét lại, đây không những là vấn đề mang tính quy luật trong sự phát triển của Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, mà còn là yêu cầu nhiệm vụ thường xuyên cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Do vậy đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội xét lại trong Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế nói chung, Việt Nam nói riêng là vấn đề quan trọng để xây dựng Đảng ta vững mạnh và là vấn đề có ý nghĩa lý luận, thực tiễn cấp bách hiện nay.

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016

PHẢI CHĂNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC “THỰC CHẤT CHỈ LÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHÔNG TƯỞNG MỚI”?

Những năm gần đây, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu rơi vào khủng hoảng sâu sắc và sụp đổ, các thế lực thù địch đã lớn tiếng công kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ tìm mọi cách hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực và thủ tiêu tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong ý thức con người; cố tình gán cho C.Mác và Ph.Ăngghen - những nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học đủ các tội danh, cho rằng chủ nghĩa xã hội khoa học của các ông “thực chất chỉ là chủ nghĩa xã hội không tưởng mới” mà thôi; sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là vì đi theo một học thuyết sai lầm và đề nghị loại bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản, thay vào đó là một thứ chủ nghĩa dân tộc.
Phải chăng chủ nghĩa xã hội khoa học đã không còn sức sống?
Chúng ta biết rằng: “Hệ tư tưởng của giai cấp vô sản - học thuyết của chủ nghĩa xã hội khoa học, tức là chủ nghĩa Mác”[1] là một khoa học nghiên cứu những quy luật và những vấn đề có tính quy luật xã hội - chính trị của quá trình phát triển xã hội từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, cùng những điều kiện, con đường và biện pháp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để thực hiện quá trình phát triển đó của xã hội.
Trong tiến trình phát triển của các khoa học xã hội và nhân văn, chủ nghĩa xã hội khoa học là một khoa học mới mẻ, đang trong quá trình bổ sung, phát triển, trong đó có nhiều vấn đề còn mang tính chất dự báo cần được thực tiễn kiểm nghiệm. Mặt khác, do tính chính trị - thực tiễn của nó mà ngay từ khi hình thành và trong suốt quá trình phát triển, chủ nghĩa xã hội khoa học luôn bị các thế lực thù địch phản bác, công kích từ nhiều phía hòng phủ nhận, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay của thời đại. Song mọi ý đồ phủ nhận chủ nghĩa xã hội khoa học trước đây đã bị thất bại, đang và sẽ tiếp tục thất bại.
Với bản chất cách mạng, khoa học, đồng thời mang đậm tính nhân văn sâu sắc, chủ nghĩa xã hội khoa học không thể bị phủ nhận. Trái lại, chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ không ngừng được bổ sung, phát triển ngày càng phong phú hơn, ngày càng có giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc hơn. Không thể vì sự sụp đổ của một số mô hình cụ thể trong hiện thực vừa qua mà cho rằng chủ nghĩa xã hội khoa học không còn sức sống. Những thành tựu của chủ nghĩa xã hội trong đời sống chính trị thế giới trước đây là không thể phủ nhận. Những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rất quan trọng là nhận thức và vận dụng chưa đúng những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học vào cuộc sống. Về điều này, chính Ph.Ăngghen đã từng nhắc nhở: đáng tiếc là người ta thường hay nghĩ rằng có thể hoàn toàn thấu đáo một lý luận mới và có thể vận dụng lý luận đó không khó khăn gì, một khi đã nắm được những nguyên tắc chủ yếu và điều đó không phải bao giờ cũng đúng. Song không thể chỉ nhìn vào những sai lầm, khuyết điểm đã qua để mà phủ nhận hoàn toàn tính tất yếu, hợp quy luật của chủ nghĩa xã hội, không thể vì những sai lầm chủ quan mà bác bỏ cả chân lý khách quan của thời đại, mà phủ nhận giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Cũng không thể cho rằng các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học là  trừu tượng quá, ít có giá trị ứng dụng trong thực tế. Lý luận đó không bao giờ là đáp án có sẵn cho mọi bài toán của lịch sử, mà chỉ đưa ra những dự báo, những quan điểm và phương pháp khoa học để giải những bài toán đó. Chính những người cộng sản và nhân dân lao động ở mỗi nước phải dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin tự mình tìm ra những giải pháp, những đáp án để giải quyết những vấn để nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống luôn không ngừng vận động và phát triển; đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển hoàn thiện những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học trong những điều kiện lịch sử mới. Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ nghĩa xã hội khoa học ngày càng thực sự là khoa học do vận động lịch sử sản sinh ra và tham dự vào quá trình vận động của lịch sử ấy một cách hoàn toàn tự giác, không còn tính chất lý thuyết suông nữa, khoa học đã trở thành khoa học cách mạng như C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng khẳng định. 
Những sai lầm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong những năm vừa qua là một thực tế làm cho thành quả của chủ nghĩa xã hội bị hạn chế, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hiện thực bị nghi ngờ. Sự tích tụ của những sai lầm đã làm cho chủ nghĩa xã hội lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng và sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu. Như vậy, sự khủng hoảng, đổ vỡ của chủ nghĩa xã hội hiện thực không phải bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa xã hội, từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học. Mà nó bắt nguồn từ những khó khăn trong việc tìm kiếm những hình thức, phương pháp xây dựng xã hội mới chưa từng có trong lịch sử, từ những sai lầm ấu trĩ, non nớt của các cơ quan lãnh đạo, tổ chức, quản lý; những người lãnh đạo đã vận dụng không đúng đắn, thậm chí đã vi phạm những nguyên lý, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, của chủ nghĩa xã hội khoa học trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực. Sự khủng hoảng, sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực chắc chắn không phải là vô ích, sẽ giúp những người cộng sản chân chính rút ra được những bài học kinh nghiệm về sự tiếp thu, vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước.
Từ tình trạng khủng hoảng, sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Liên Xô và Đông Âu từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước, dưới sự lãnh đạo của các đảng cộng sản, các nước xã hội chủ nghĩa đã nhận thức rõ hơn về con đường tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội là tất yếu cần phải cải tổ, cải cách, đổi mới. Trong quá trình cải tổ, cải cách và đổi mới, những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội đã được các nước nêu lên và vận dụng trong thực tiễn đã có được những thành công. Quá trình đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội đến nay cho thấy, nước nào biết vận dụng sáng tạo những nguyên tắc, nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, của chủ nghĩa xã hội khoa học thì hạn chế được những khuyết tật, giữ vững được chủ nghĩa xã hội, tháo gỡ được những khó khăn, vướng mắc và đạt được những kết quả nhất định trong xây dựng xã hội mới. Ngược lại, nước nào tiếp tục xa rời, đi ngược lại những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học, không chịu tiếp thu những bài học đã rút ra từ trong khủng hoảng trước đây, cố đi tìm những giải pháp xa rời thực tiễn, theo những quan điểm cơ hội xét lại, thì ở đó xã hội sẽ ngày càng mất ổn định, khủng hoảng sẽ ngày càng sâu sắc và đưa đến tan vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Với cách mạng Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học đề ra đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng. Đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, nhân dân ta đã lựa chọn, đất nước ta đã giành được những thành tựu to lớn và những bước tiến quan trọng: hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với các nước anh em.
Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, vận dụng những nguyên lý, lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học vào thực tiễn hoàn cảnh Việt Nam, đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, độc lập, tự chủ để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kết quả đã thu được những thành tựu quan trọng trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa tư tưởng, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được từng bước cải thiện, quốc phòng, an ninh vững chắc, quan hệ đối ngoại ngày càng rộng mở, tạo ra thế và lực mới cho đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta cũng không tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm. Những sai lầm đó đã được Đảng ta phân tích, làm rõ với thái độ nghiêm túc, thẳng thắn nhìn thẳng vào sự thật, tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục có hiệu quả; rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá lãnh đạo cách mạng nói chung và trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nói riêng. Với chủ trương, đường lối đổi mới toàn diện: đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội, đổi mới hoạt động thực tiễn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đổi mới mọi mặt công tác lãnh đạo và quản lý… Trong quá trình đổi mới luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa            Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Về phương pháp, Đảng ta giữ vững tư duy độc lập, tự chủ trong xây dựng đường lối, chính sách đổi mới và xác định hình thức, bước đi phù hợp với đặc điểm tình hình của đất nước. Với tinh thần ấy, Đại hội lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: “Kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam… Kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ trì trệ, chủ quan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc”; “Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và những vấn đề nảy sinh trong quá trình đổi mới, không ngừng phát triển lý luận, đề ra đường lối và chủ trương đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; khắc phục một số mặt lạc hậu, yếu kém của công tác nghiên cứu lý luận”[2].
Với niềm tin có căn cứ khoa học, từ thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước đã và đang đạt được, chúng ta khẳng định: kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn đúng đắn duy nhất của cách mạng Việt Nam. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm độc lập, tự do cho dân tộc và ấm no hạnh phúc thực sự cho nhân dân, mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” ở nước ta mới được thực hiện. Đó là hiện thực đanh thép chứ không thể giả định khác thế. Công cuộc đổi mới đất nước ta những năm qua sở dĩ đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng bởi vì Đảng ta kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Chỉ từng ấy vấn đề cũng đã cho thấy giá trị và sức sống của chủ nghĩa xã hội khoa học đã từng cần thiết cho cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam như thế nào, chứ hoàn toàn không phải “thực chất chỉ là chủ nghĩa xã hội không tưởng mới” như một số người đang cố tình mưu toan hạ thấp, xuyên tạc và phủ nhận./.




[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 336.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 255 - 256.

TÁC PHẨM THÀ ÍT MÀ TỐT

Trong kho tàng lý luận đồ sộ của V.I.Lênin, tác phẩm “Thà ít mà tốt” là một cống hiến lý luận quan trọng về xây dựng Nhà nước. Nội dung của tác phẩm được Người đọc cho thư ký ghi lại trong nhiều ngày và hoàn thành vào ngày 2-3-1923, công bố trên báo Sự thật số 49 ngày 4-3-1923.
Nội dung tác phẩm
Đánh giá nhà nước sau 5 năm Cách mạng Tháng Mười thành công
Lênin đánh giá đúng tính chất, bản chất, vai trò, ý nghĩa lịch sử trọng đại của nhà nước Xô viết. Người khẳng định: Nhà nước Xô viết đã tạo ra một xã hội mới, một kỷ nguyên mới. Người viết: “Trong hàng mấy trăm năm nay người ta đã xây dựng lên những nhà nước theo kiểu tư sản và đây là lần đầu tiên, chúng ta đã tìm ra một hình thức nhà nước không phải tư sản… Dẫu cho bộ máy nhà nước của chúng ta còn kém cỏi, nhưng nó đã được sáng tạo ra, đó là một phát minh lịch sử vĩ đại nhất, một nhà nước kiểu vô sản đã được sáng tạo ra”. Đồng thời, Lênin không xem thường mặt yếu kém của bộ máy Xôviết sau 5 năm xây dựng và những nguyên nhân của những yếu kém đó, những hạn chế đó là: quan liêu, thủ cựu, bảo thủ, không muốn đổi mới cái gì cả.
Đường lối mà Đảng Bônsêvích Nga đứng đầu là Lênin được đặt ra rất đúng đắn. Yếu tố quyết định lúc này là tổ chức, bao gồm cả bộ máy tổ chức hoạt động thực tiễn. Năm 1923, Lê nin nói nước Nga Xô viết còn xa mới mang đầy đủ tính chất chủ nghĩa xã hội vì bộ máy cồng kềnh, làm việc thì quan liêu, đội ngũ cán bộ sính làm kế hoạch, chỉ đạo thực tiễn yếu, ba hoa, cách mạng suông, xuất hiện bệnh tự mãn của người cộng sản, có cả phần tử xấu, cơ hội.
Tại sao đến thời điểm này, Lênin quan tâm nhiều đến củng cố bộ máy nhà nước ? Sau Cách mạng Tháng Mười, vấn đề này đã được đặt ra, nhưng lúc đó chưa có điều kiện giải quyết vì nội chiến. Trải qua 5 năm củng cố nhưng không nắm chắc phương châm nên đến năm 1923 bộ máy của nhà nước vẫn không đáp ứng được yêu cầu cách mạng mới. Người nói: “Thế là đã năm năm, chúng ta ra sức cải tiến bộ máy nhà nước của ta. Nhưng đó chỉ là một hoạt động phí công, một hoạt động qua năm năm, đã chỉ cho chúng ta thấy rõ rằng hoạt động đó chỉ là vô hiệu, thậm chí còn vô ích, hay thậm chí còn có hại là khác”. Người nói: “Không, bộ máy ấy (bộ máy Xô viết - BT), có thể nói là chúng ta chưa có, và ngay cả những yếu tố cho phép chúng ta xây dựng được bộ máy ấy, chúng ta cũng có ít ỏi đến nực cười”.
Nguyên nhân của nó bắt nguồn từ quá khứ, nhà nước tư sản bị lật đổ nhưng chưa hoàn toàn bị tiêu diệt. Trình độ văn hóa của nhân dân quá thấp. Nội chiến lại diễn ra quá dài. Nhiều cán bộ ưu tú của Đảng phải ra mặt trận, tạo ra chỗ hổng lớn ở địa phương. Trong hoàn cảnh đó, nhà nước Nga phải sử dụng cả những chuyên gia tư sản trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá và quân sự.
Mục đích của việc cải tiến bộ máy nhà nước
Mục đích quốc gia: Nhằm bảo đảm cho nhà nước Xô viết thực sự xứng đáng với danh hiệu là bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở có đầy đủ năng lực quản lý, đưa nhà nước Nga từ sản xuất nhỏ, yếu kém, nông nghiệp lạc hậu tiến lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Mục đích quốc tế: Củng cố bộ máy nhà nước là bài học có tính chất quốc tế, Lênin đã nêu ra hai vấn đề:
- Với nền sản xuất tiểu nông, đất nước bị tàn phá, chính quyền Xô viết có thể đứng vững cho đến khi cách mạng các nước khác có thể đứng vững được không?
- Liệu nước Nga Xô viết có thể tránh được sự xung đột với các nước đế quốc chủ nghĩa hay không?
Yêu cầu và điều kiện cải tiến bộ máy Xô viết
Phải xây dựng được một nhà nước thực sự trong sạch và gương mẫu. Nhà nước đó phải được xây dựng trên cơ sở vững chắc của khối liên minh công - nông. Liên minh công - nông theo Lênin là phải có cái mới về số lượng và chất lượng. Nông dân phải được hợp thành một giai cấp nông dân tập thể. Liên minh công - nông là liên minh chính trị bảo đảm cho họ có quyền làm chủ.
Nhà nước Xô viết phải gọn nhẹ, có hiệu lực. Cán bộ, viên chức trong bộ máy nhà nước phải có phẩm chất và năng lực tốt. Người nói: “Theo ý tôi, phải vĩnh viễn vứt bỏ ngay tất cả những tiêu chuẩn chung về số lượng nhân viên của các cơ quan thuộc bộ ấy. Chúng ta phải lựa chọn đặc biệt cẩn thận những cán bộ của Bộ dân ủy thanh tra công nông, căn cứ vào một sự kiểm tra nghiêm ngặt nhất, chứ không khác được”. Phải qua thi cử và uy tín của bản thân. Người chỉ ra rằng, nên tập trung chọn vào bộ máy nhà nước những cán bộ có kinh nghiệm ở các cơ quan cũng như trong số những sinh viên các trường đại học Xô viết, lựa chọn cán bộ phải theo phương châm “Thà ít mà tốt” ít về số lượng nhưng chất lượng phải cao.
Phải đổi mới thành phần của bộ máy ấy bằng những lực lượng ưu tú của Đảng trong giai cấp công nhân và giới tri thức. Vì thế, cần phải: “Một là học tập, hai là học tập, ba là học tập mãi, và sau nữa, phải làm sao cho học thức ở nước ta không nằm trên giấy hoặc là một lời nói theo mốt nữa...”.
Điều kiện để xây dựng bộ máy nhà nước ấy là: Một là, giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải có trình độ cần thiết, vì thế mỗi người phải tự nỗ lực, cố gắng học tập để nâng cao trình độ. Hai là, phải làm cho học thức đó không nằm trong giấy tờ hoặc chỉ là một lời nói theo mốt mà phải coi nó là bộ phận khăng khít của cuộc sống, ra sức học tập để phục vụ lợi ích chung.
Phương châm, biện pháp củng cố bộ máy nhà nước
Phương châm: “Thà ít mà tốt”. Thứ nhất cải tổ bộ máy nhà nước phải được tiến hành có trọng điểm, đó là Bộ dân ủy thanh tra công nông. Thứ hai tiến hành vững chắc; thận trọng; tránh lề mề, kém hiệu quả.
Biện pháp: Thứ nhất, tăng cường công tác kiểm tra; củng cố quan điểm của Đảng và Nhà nước; lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Cán bộ lãnh đạo phải là người cộng sản ưu tú, phải có thi khảo sát trình độ, phải hiểu được quá trình vận hành của bộ máy nhà nước. Thứ hai, phải thanh lọc khỏi bộ máy nhà nước những kẻ quan liêu, những kẻ ăn hối lộ, những phần tử lạc lõng khác.
Ý nghĩa của tác phẩm
Tác phẩm có ý nghĩa thực tiễn cực kỳ quan trọng, nó trang bị cho những người cộng sản lý luận về xây dựng nhà nước Xô viết đứng vững và phát triển. Đây là di huấn chính trị có ý nghĩa quốc tế đối với cái đảng mácxít lêninnít lãnh đạo chính quyền. Tác phẩm đã và đang tiếp tục đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động thực tiễn của Đảng Cộng sản về xây dựng CNXH và CNCS.

Thấm nhuần tư tưởng của Lênin, Đảng ta đã vạch ra đường lối đổi mới toàn diện, trong đó có cải cách bộ máy nhà nước nhằm làm cho bộ máy nhà nước trong sạch và vững mạnh. Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương 6 lần 2 khóa VIII và Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 khóa XI là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo những vấn đề lý luận và thực tiễn từ tác phẩm “Thà ít mà tốt” của V.I.Lênin vào điều kiện cụ thể của Đảng ta. Tình hình chính trị phức tạp hiện nay càng đặt ra cho Việt Nam phải kiên trì con đường mình đã chọn. Khẳng định đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã vạch ra là con đường đúng đắn nhất để nhà nước thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong quá trình chuyển đổi và thực hiện cơ chế quản lý mới, vấn đề nhà nước, vấn đề quản lý hành chính của nhà nước càng trở nên cấp thiết và có ý nghĩa lớn lao nhằm phân định rõ ràng ranh giới giữa Đảng và Nhà nước. Cách mạng Việt Nam thời gian qua đã phản ánh đúng nhưng tư tưởng vĩ đại đó của Lênin, đã đứng vững và đang dốc toàn lực vào công cuộc đổi mới toàn diện, đưa đất nước vốn nghèo nàn lạc hậu tiến lên một đất nước phồn vinh./. 

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2016

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH DÂN TỘC HỌC TRÊN THẾ GIỚI

Cho đến giữa thế kỷ XIX, khoa học dân tộc học được tách ra khỏi khoa học lịch sử, trở thành một ngành khoa học độc lập. Song dân tộc học đã có quá trình hình thành lâu dài trong lịch sử nhân loại.
Thời cổ đại, những nguồn tư liệu về dân tộc học trên thế giới đã được ghi chép, tích lũy phong phú trong nhiều sách lịch sử, ký sự, địa lý, văn học... Thời cổ đại có những tài liệu ghi chép mang tính chất dân tộc học. Trong cuốn Sáng thế kỷ (bộ sách đầu của Kinh Cựu ước) đã cung cấp những tư liệu về tộc người Do Thái ở Trung Đông. Bản anh hùng ca Iliát và Ôđixê của Hôme đã miêu tả những sắc tộc trong đoàn quân Hy Lạp ở vùng Địa Trung Hải. Các sách cổ của Trung Quốc (Kinh thi của Khổng Tử, Sử ký của Tư Mã Thiên), Ấn Độ (Kinh Vệ Đà, Sử thi Ramayana)... đều chứa đựng nhiều tư liệu về dân tộc học.
Thời trung cổ, ở vùng Trung Đông, trong sách lịch sử của các học giả Ảrập đã ghi chép nhiều tư liệu dân tộc học về vùng đất này. Trong biên niên sử Trung Quốc, phần viết về sư Huyền Trang đời Đường đã nói đến nhiều phong tục tập quán của các dân tộc ở Trung Á, Đông Nam Á. Tác phẩm Cuộc đời của Máccô Pôlô ghi chép về phong tục, tập quán, văn hóa của các nước phương Đông. Trong chuyến đi vòng quanh thế giới, Côlôngbô đã tìm ra châu Mỹ và ghi chép nhiều tư liệu về thổ dân da đỏ. Chuyến thám hiểm của Magienlăng ghi chép lại đặc điểm các dân tộc ở các nước Á, Phi, Mỹ, châu Đại Dương.
Thời cận đại, tư liệu dân tộc học ngày một nhiều, mang ý nghĩa dân tộc học trực tiếp hơn. Năm 1788, để chuẩn bị cho thành lập Hội Phi châu (African Association), các nghiên cứu và khảo sát châu Phi được đẩy mạnh, đem lại nhiều tư liệu phong phú về các dân tộc ở đây. Cuối thế kỷ XVIII, lần đầu tiên thuật ngữ Dân tộc học - Ethnography, xuất hiện trong tác phẩm Khảo luận về giáo dục tri thức với dự định thành lập một khoa học mới của Chavannes (Pháp) xuất bản ở Thụy Sĩ năm 1787. Tại đây, Chavannes định nghĩa dân tộc học như là lịch sử những tiến bộ của các dân tộc.

Đến giữa thế kỷ thứ XIX, dân tộc học đã trở thành một khoa học độc lập. Nhiều công trình dân tộc học, tạp chí chuyên ngành được xuất bản, nhiều cơ quan nghiên cứu chuyên môn được thành lập ở Tây Âu, điển hình ở Anh, Pháp, Đức... Lúc này, khoa học dân tộc học đã xác định được phạm vi, đối tượng, chức năng và nhiệm vụ nghiên cứu có tính độc lập. C.Mác và Ph.Ăngghen đã có những tác phẩm nổi tiếng, có ý nghĩa dân tộc học sâu sắc như: Sự hình thành ý thức Đức; Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước... làm cơ sở lý luận quan trọng cho hình thành, phát triển trường phái dân tộc học mác xít.

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ LÀ MỘT TẤT YẾU HIỆN NAY


Thời gian vừa qua lợi dụng sự kiện chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ và sự tạm thời nắng xuống của Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế, các học giả tư sản và một số người trước đây đã từng là “cộng sản” qua miệng lưỡi của mình đã tuyên truyền rằng: phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã cơ bản bị thủ tiêu. Họ cho rằng lực lượng còn lại hiện nay chỉ như là những cơ thể yếu ớt đang thoi thóp trong môi trường phát triển của chủ nghĩa tư bản, sớm hay muộn những cơ thể yếu ớt đó cũng sẽ ngừng thở và bị đào thải ra khỏi quỹ đạo phát triển của chủ nghĩa tư bản. Họ khẳng định rằng chỉ có con đường tư bản chủ nghĩa mới là vĩnh cửu, trường tồn, mới hợp quy luật trong sự tồn tại phát triển của xã hội loài người. Vậy những ngôn từ của những miệng lưỡi nói trên đúng hay sai, và sự thật có như họ nói hay không? Để đi tìm câu trả lời nghiên cứu, tìm hiểu chủ nghĩa tư bản và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế sẽ thấy rõ.
Trước hết bàn về chủ nghĩa tư bản, vào thế kỷ thứ XIV, XV trong lòng xã hội phong kiến đang trên đà suy tàn (ở châu Âu) đã xuất hiện một giai cấp mới, giai cấp tư sản với một kiểu phương thức sản xuất mới, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ngay từ khi mới ra đời phương thức sản xuất này đã tỏ ra vượt trội so với phương thức sản xuất phong kiến, càng phát triển nó càng phá tan những cát cứ phong kiến. Như C.Mác đã nhận xét: trong quá trình phát triển của mình chủ nghĩa tư bản đã tạo ra lượng vật chất bằng tất cả các xã hội trước đó cộng lại. Tuy nhiên từ khi xuất hiện đến khi giành thắng lợi trước giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản cũng phải trải qua quá trình đấu tranh suốt mấy thế kỷ từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Từ khi giành thắng lợi và thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa đến nay, với bản chất của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất giai cấp tư sản đã tiến hành áp bức bóc lột đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động thông qua giá trị thặng dư, nó đã tạo lên chính trong lòng nó những mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không thể điều hòa. Theo quy luật mâu thuẫn khi đạt đến đỉnh điểm thì tự khắc mâu thuẫn đõ sẽ được giải quyết, biểu hiện ra mặt xã hội là sự đối kháng giai cấp giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Sự đối kháng đó khi đến đỉnh điểm thì cách mạng xã hội sẽ nổ ra. Trên thực tế các cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân, nhân dân lao động tến hành đã nổ ra ngay từ khi mới ra đời và cùng với quá trình phát triển, thì những cuộc cách mạng xã hội đó đã trở thành các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và chiến thắng giai cấp tư sản, làm suy yếu và thất bại chế độ tư bản.
 Điều này cho thấy rằng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản không và sẽ không bao giờ là một chế độ hợp với quy luật phát triển của xã hội loài người, không bao giờ là vĩnh cửu khi mà nó là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, khi mà trong lòng nó luôn tồn tại những mâu thuẫn không thể điều hòa.
Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế, đây là bộ phận tiên tiến nhất của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới, tập hợp và liên kết các đảng cộng sản và công nhân, các tổ chức chính trị xã hội của giai cấp công nhân quốc tế trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa quóc tế của giai cấp công nhân. Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế là phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động nhằm chống lại giai cấp tư sản, xóa bỏ chế độ áp bức và bóc lột, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới và thực hiện các mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Lịch sử hình thành, phát triển của Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế là một quá trình lâu dài, trải qua nhiều giai đoạn phát triển gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống các chế độ áp bức, bóc lột và đặc biệt gắn liền với sự phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin – hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và phong trào công nhân. Sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân dẫn đến sự ra đời và phát triển các đảng cộng sản và công nhân – đội tiền phong của giai cấp công nhân. Từ khi giai cấp công nhân có đảng cộng sản chân chính lãnh đạo, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đã chuyển từ tự phát lên tự giác. Phong trào Công nhân với nhiều tổ chức chính trị - xã hội, nhiều hình thức và phương pháp đấu tranh đã góp phần to lớn làm biến đổi sâu sắc bộ mặt thế từ giữa thế kỷ XIX đến nay. Đặc biệt là trong thế kỷ XX phong trào công nhân đã giành thắng lợi vang dội đưa chủ nghĩa xã hội mở đầu bằng cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, sau chiến tranh thế giới thứ 2 trở thành hệ thống đe dọa sự tồn vong của chủ nghĩa tư bản.
Măc dù trong giai đoạn vừa qua chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu thoái trào sụp đổ, nhưng theo phân tích của các nhà nghiên cứu thì đây là sự sụp đổ của những mô hình cụ thể đã cững nhắc chứ không phải sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học và Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế. Nguyên nhân của sự sụp đổ trên ai cũng rõ đó là do giáo điều, máy móc, do chậm đổi mới tư duy, do sự chống phá của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội xét lại. Với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại do đã rút ra được những bài học sương máu từ sự sụp đổ trên, nên đã kịp thời cải cách, đổi mới không những không sụp đổ mà còn phát triển mạnh mẽ. Mô hình đó đã ngày càng củng cố thêm niềm tin vững chắc vào chế độ xã hội chủ nghĩa, cổ vũ, động viên phong trào công nhân quốc tế tiếp tục phát triển trên con đường đấu tranh vì một tương lai tươi sáng của mình.
Hiện nay cho dù chủ nghĩa tư bản có tận dụng được khoa học, công nghệ, có điều chỉnh thích nghi, nhưng họ cũng không làm giảm được những mâu thuẫn vốn có mà nó ngày càng trầm trọng thêm. Biểu hiện của những mâu thuẫn này đó là những cuộc khủng hoảng về chính trị, kinh tế và những bất ổn xã hội đang hàng ngày, hàng giờ xảy ra ngay chính trong lòng của các nước tư bản, trong đó phần nhiều ở các nước tư bản phát triển, đặc biệt là Mỹ. Từ những khủng hoảng đó làm cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở các nước này vẫn tiếp tục diễn ra một cách mạnh mẽ.

Như vậy những quan điểm được phát ra từ những miệng lưỡi của các học giả tư sản đã nêu ở trên là hoàn toàn không có cơ sở khoa học. Sự ngụy biện của họ chẳng qua chỉ để cố gắng bảo tồn cái cơ thể hiện đang mục ruỗng của họ và qua đó làm giảm đi khí thế đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động mà thôi. Chúng ta có thể khẳng định rằng Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế hiện nay sẽ không hề bị thủ tiêu và cũng không bao giờ trở thành cơ thể yếu ớt mà phong trào đó ngày càng phát triển mạnh mẽ. Chúng ta tin tưởng rằng sớm hay muộn phong trào đó cũng sẽ giành thắng lợi trên phạm vi toàn thế giới và nó luôn là một tất yếu của lịch sử./.