Hiển thị các bài đăng có nhãn lý luận chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lý luận chính trị. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên internet, đặc biệt là mạng xã hội, được Đại hội Đảng các cấp đặt ra với yêu cầu ngày càng cao hơn. Đặc biệt, thời gian qua, công tác này được các cấp ủy Đảng chú ý nhiều hơn, qua đó đưa mạng xã hội trở thành mũi tiến công sắc bén nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

XU THẾ TẤT YẾU

Với những tiện ích to lớn, ứng dụng hữu ích, mạng xã hội trở thành diễn đàn chia sẻ và phản biện xã hội thiết thực. Tại Việt Nam, với khoảng 76,95 triệu người dùng (chiếm 78,1% tổng dân số), việc phát huy vai trò của mạng xã hội để tuyên truyền chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã và đang trở thành xu thế tất yếu.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, thời gian qua, mạng xã hội đã góp phần quan trọng trong việc tuyên truyền chính trị, triển khai chính sách của Đảng và Nhà nước và có ảnh hưởng sâu rộng tới đời sống chính trị. Tuy nhiên, mạng xã hội cũng trở thành phương tiện hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng tiến hành phá hoại nền tảng tư tưởng, chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông cho thấy, thời gian qua, Bộ đã phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý, ngăn chặn gần 4.000 trang web, hình ảnh, bài viết có chứa các thông tin xấu, độc, phản cảm; chặn và yêu cầu gỡ bỏ hàng loạt các thông tin xấu, độc… Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý internet ngày càng được củng cố. Nhờ vậy, mạng xã hội đã góp phần quan trọng trong việc phổ biến, tuyên truyền, củng cố niềm tin của nhân dân vào nền tảng tư tưởng, đường lối lãnh đạo của Đảng; là diễn đàn trong đấu tranh chống lại các thế lực thù địch, phản động; thiết lập mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.

Khẳng định mạng xã hội ngày càng góp phần quan trọng trong việc củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và điều hành của Chính phủ, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hảo (Học viện Báo chí và Tuyên truyền) thông tin, tháng 10-2015, Chính phủ đã lập 2 tài khoản Facebook là “Thông tin Chính phủ” và “Diễn đàn Cạnh tranh quốc gia” với kỳ vọng giúp người dân tiếp cận kịp thời các văn bản, quy phạm pháp luật mới ban hành; thông tin thời sự chính trị, kinh tế - xã hội, hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Qua đó không những đáp ứng nhu cầu thông tin, khuyến khích người dân đồng hành với Chính phủ mà còn góp phần thiết thực định hướng dư luận trên mạng xã hội...

CHỦ ĐỘNG DẪN DẮT DƯ LUẬN

Chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền chính trị trên mạng xã hội trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bắc Giang Đỗ Đức Hà cho biết, tỉnh duy trì hoạt động của gần 2.700 tài khoản mạng xã hội để tuyên truyền, đấu tranh, phản bác và thường xuyên chia sẻ, định hướng các thông tin tích cực, tham gia bóc gỡ các tài khoản mạng xã hội đăng tải thông tin xấu, kích động bạo lực.

Từ thực tế địa phương, đồng chí Đỗ Đức Hà cho rằng, để nâng cao hiệu quả tuyên truyền chính trị trên mạng xã hội, cần chủ động lựa chọn, xây dựng chủ đề để dẫn dắt dư luận; chú trọng tính tương tác, sự gần gũi, sử dụng nhiều ngôn ngữ và hình thức được cư dân mạng ưa thích; tạo sự thống nhất trong truyền thông, từ thông tin trên báo chí, truyền hình đến trang tin điện tử, trang web, Facebook, Youtube... qua đó tăng “đề kháng” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ trước những thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội…

Còn theo Tiến sĩ Dương Thị Thu Hương (Học viện Báo chí và Tuyên truyền), để thu hút, mở rộng công chúng là những người trẻ thường xuyên theo dõi, tiếp cận thông tin trên các mạng xã hội chính thống, cần xây dựng được các nhóm nòng cốt, bao gồm những người trẻ tuổi đã được tập huấn kỹ lưỡng cùng tham gia xây dựng nội dung truyền thông trên mạng xã hội. Đồng thời, mở rộng liên kết để tăng hiệu quả truyền thông về các chủ đề chính trị, xã hội phù hợp đối với từng đối tượng.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hà, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản cũng cho rằng, để phát huy những lợi thế của mạng xã hội trong tuyên truyền chính trị, trước hết, phải đổi mới hình thức, phương pháp đưa thông tin lý luận chính trị trên mạng xã hội, bảo đảm phong phú, cập nhật, thuyết phục. Bên cạnh đó, bổ sung các kênh thông tin mạng xã hội chính thống của các cơ quan, tổ chức, đoàn thể về các vấn đề lý luận chính trị...

Cũng theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hà, cần khuyến khích cán bộ, đảng viên, hội viên, công nhân viên tham gia mạng xã hội để cung cấp nhiều thông tin tích cực, quan điểm đúng đắn về các vấn đề lý luận chính trị. Đặc biệt, các chính khách, người có uy tín và ảnh hưởng trong xã hội trong những điều kiện cụ thể cần sử dụng mạng xã hội để lan tỏa những quan điểm, định hướng đúng đắn về chính trị tới đông đảo các tầng lớp nhân dân… Qua đó, góp phần quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những thông tin xấu, độc.

Theo Hanoimoi.com.vn

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2022

SỰ CẦN KÍP TRONG HỌC TẬP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CỦA SINH VIÊN

Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện nay nước ta có hơn 1,6 triệu sinh viên. Họ là những trí thức tương lai của đất nước, là tầng lớp kế cận đóng vai trò chủ chốt trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; góp phần hiện thực hóa mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội lần XIII của Đảng đề ra đó là đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Mặt khác, một bộ phận sinh viên trong tương lai sẽ trưởng thành, rồi trở thành cán bộ, đảng viên nắm giữ các vị trí quan trọng, chủ chốt trong hệ thống chính trị và bộ máy Nhà nước.

Quan điểm nhất quán trong sự nghiệp giáo dục của Đảng ta là đào tạo thế hệ trí thức mới không chỉ giỏi chuyên môn nghiệp vụ, mà trước hết phải có đạo đức, có lòng yêu nước thiết tha, gắn bó với nhân dân, với chế độ, sẵn sàng góp sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Như vậy, bên cạnh đào tạo chuyên môn, học tập các môn LLCT (Triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác-Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh và Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam) có vai trò quan trọng trang bị thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng, củng cố niềm tin của sinh viên vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa và công cuộc đổi mới đất nước. Từ đó, góp phần đào tạo sinh viên phát triển một cách toàn diện. Theo PGS, TS Phạm Văn Linh, Phó chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương: “Việc nắm vững nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ trương, chính sách và pháp luật của Nhà nước là điều hệ trọng với công dân Việt Nam nói chung, đặc biệt là sinh viên, những người mai sau sẽ trở thành đội ngũ cán bộ có trình độ cao. Lịch sử đã chứng minh, đội ngũ cán bộ vừa “hồng” vừa “chuyên” luôn là một nhân tố đảm bảo thắng lợi của cách mạng Việt Nam qua các giai đoạn khác nhau”.

Thời gian ngồi trên giảng đường đại học cực kỳ quan trọng đối với sinh viên trong việc tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp tư duy và bản lĩnh chính trị. Từ điểm xuất phát này, sinh viên sẽ trưởng thành và bước sang chương mới cuộc đời với khát vọng lập thân, lập nghiệp. Nếu điểm xuất phát tốt, họ sẽ đạt được những bước đi vững chắc, có khả năng phát triển năng lực, sở trường trong tương lai.

Không ít sinh viên vẫn có suy nghĩ chỉ những ai muốn phấn đấu trở thành cán bộ, đảng viên trong tương lai thì mới cần học tốt các môn LLCT; nếu không thì xác định học “cho xong”. Đây là nhận thức sai lầm! Bởi lẽ, dù làm công việc gì đi nữa, cũng cần có kiến thức về chính trị, xã hội, nắm vững được chính sách, pháp luật, vận dụng trong công việc và đời sống. Chẳng hạn, một nghệ sĩ nếu nắm vững quan điểm chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về văn hóa văn nghệ sẽ có bản lĩnh chính trị, chắc chắn không sáng tác, phổ biến những tác phẩm nhạy cảm chính trị, vi phạm thuần phong mỹ tục; ứng xử văn hóa, có đạo đức nghề nghiệp, không làm ảnh hưởng tiêu cực đến danh tiếng của bản thân. Hay như một doanh nhân sẽ tìm thấy những yếu tố tích cực từ tư tưởng Hồ Chí Minh về thu hút, trọng dụng nhân tài để vận dụng vào thực tiễn tuyển trạch và quản trị nhân sự doanh nghiệp.

Không chỉ mang lại lợi ích để lập nghiệp mai sau, học tập LLCT còn giúp sinh viên lập thân, trở thành công dân gương mẫu, có trách nhiệm với cộng đồng, luôn tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức. Từ đó, trong suy nghĩ và hành động đều hướng đến các giá trị nhân văn cao đẹp; có lòng yêu nước nồng nàn; có tinh thần kiên định, vững vàng trước những biến động phức tạp của cuộc sống.

Đặc trưng của sinh viên là tuổi đời còn trẻ, khoảng từ 18 đến 25 tuổi. Bên cạnh ưu điểm có tri thức, năng động, dễ tiếp thu cái mới song tâm lý chưa ổn định, thiếu kinh nghiệm, chưa nhạy cảm với các vấn đề chính trị xã hội, dễ sa vào tệ nạn xã hội, bắt chước văn hóa lai căng nước ngoài. Nắm bắt điều này, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường xuyên kích động, lôi kéo, dụ dỗ sinh viên tiếp xúc các thông tin xấu độc, nhất là trên môi trường internet, nhằm làm giảm niềm tin của sinh viên đối với Đảng, Nhà nước; thậm chí một số sinh viên đã bị lợi dụng, tích cực hoạt động chống phá chế độ, gây bất ổn chính trị, an ninh trật tự. Cho nên, việc học tập các môn LLCT sẽ giúp sinh viên có lập trường tư tưởng kiên định, bản lĩnh chính trị vững vàng, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Đất nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới, nhiều tư tưởng, học thuyết, hệ giá trị, quan điểm cũng sẽ theo các cánh cửa giao thương, không gian mạng... mà ùa vào, tác động đến tâm tư, tình cảm và hành động của sinh viên. Do vậy, việc giáo dục LLCT cho sinh viên đại học nhằm tạo ra nền tảng kiến thức chính trị-xã hội vững vàng ngay từ giảng đường đại học là vô cùng quan trọng. Thông qua học tập các môn LLCT, sinh viên có nhận thức đúng đắn; có niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Từ đó, sẽ quyết định khuynh hướng, mục đích và hiệu quả hoạt động của sinh viên trong học tập, lao động; xây dựng lý tưởng cách mạng trong sáng, làm chủ bản thân, giàu lòng yêu quê hương, đất nước, xây dựng và củng cố vững chắc mục tiêu lý tưởng.

“KHÔNG CÓ LÝ LUẬN THÌ LÚNG TÚNG NHƯ NHẮM MẮT MÀ ĐI”

Đây là nhận định minh triết của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của lý luận được Người viết trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” (năm 1947). Lý luận nói chung và LLCT nói riêng trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận; rồi lại đem nó chứng minh với thực tế mới thực sự chắc chắn, chân chính.

Nhiều lần Bác căn dặn mọi người, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên khắc phục tình trạng kém lý luận, khinh lý luận và cũng đừng rơi vào lý luận suông. Những lời chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến LLCT thật gần gũi, dễ đi vào lòng người bởi chính Bác là tấm gương sáng về học tập, nghiên cứu và vận dụng LLCT để hậu thế noi theo. Người đã bôn ba khắp năm châu bốn biển tìm hiểu thực tế, tiếp xúc với bao học thuyết chính trị mới tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn.

Trở lại thời điểm đầu thế kỷ XX, trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các phong trào yêu nước, từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm của lịch sử đều lần lượt thất bại. Chỉ đến khi Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp xúc với lý luận cách mạng của thời đại là Chủ nghĩa Mác-Lênin, Người mới nhận ra con đường cách mạng Việt Nam phải đi, đó là tiến hành cách mạng vô sản giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Với tư duy độc lập, sáng tạo không rơi vào lý luận suông, không áp dụng lý luận cứng nhắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã nhiều lần vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đặc thù Việt Nam; đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập, thống nhất đất nước, mang lại đời sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

 Ngày nay, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Đảng ta kiên trì lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Cho nên việc học tập, nghiên cứu LLCT là để hiểu sâu sắc, đầy đủ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là nhiệm vụ của cán bộ, đảng viên, người lao động có tư tưởng tiến bộ. Chỉ có trang bị đầy đủ về LLCT mới có thể tạo ra hành động cách mạng tích cực, hiệu quả như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Lý luận sở dĩ quan trọng là vì nó dạy ta hành động”.

Như vậy, việc học tập LLCT trước tiên là để cán bộ, đảng viên nâng cao bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Chỉ có nghiên cứu, học tập LLCT thực chất, với động cơ tích cực, trong sáng mới giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên có tư duy khoa học, có phương pháp làm việc biện chứng; từ đó vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, hoàn thành công việc được giao phó.

Với tầm quan trọng của LLCT giải thích vì sao trong các nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định của Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị nhiều năm qua luôn nhấn mạnh phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng LLCT. Đồng thời, nhận định biểu hiện nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập LLCT, lười học tập LLCT là một trong những biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị.

Thứ Ba, 3 tháng 8, 2021

“MỘT DÂN TỘC, MỘT ĐẢNG VÀ MỖI CON NGƯỜI, NGÀY HÔM QUA LÀ VĨ ĐẠI, CÓ SỨC HẤP DẪN LỚN, KHÔNG NHẤT ĐỊNH HÔM NAY VÀ NGÀY MAI VẪN ĐƯỢC MỌI NGƯỜI YÊU MẾN VÀ CA NGỢI, NẾU LÒNG DẠ KHÔNG TRONG SÁNG NỮA, NẾU SA VÀO CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN”

Đây chính là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi làm việc với một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, ngày 18 tháng 6 năm 1968, để bàn về cách thực hiện điều mà Bác đã đề nghị với Ban Bí thư Trung ương Đảng làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt”. Đây là thời điểm mà công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta ở miền Nam thu được nhiều thắng lợi quan trọng, nhưng cũng đặt ra những khó khăn thách thức mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao truyền thống hào hùng của dân tộc, thành tích vẻ vang của Đảng và mỗi con người trong sự nghiệp kiến quốc và đấu tranh giải phóng dân tộc; mà còn nhắc nhở các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cơ quan của Nhà nước, Chính phủ phải triệt để đấu tranh khắc phục tư tưởng sống thỏa mãn trong hào quang, chiến thắng của ngày hôm qua, phải luôn tiến về phía trước, đấu tranh loại trừ ra khỏi hàng ngũ của Đảng, bộ máy nhà nước những người “sa vào chủ nghĩa cá nhân” không còn đủ tư cách, tha hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân. Thực hiện lời dạy của Bác, toàn Đảng toàn dân, toàn quân ta đã đem hết tài năng và sức lực cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là thành tựu hơn 30 năm đổi mới, lời dạy của Bác năm xưa vẫn vẹn nguyên giá trị, là tư tưởng chỉ đạo, bài học thực tiễn sâu sắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam đã trưởng thành về mọi mặt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, thực sự là lực lượng chính trị, lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong hai cuộc kháng chiến trước đây. Tư tưởng của Bác tiếp tục là ánh sáng soi đường xây dựng quân đội ta vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở nền tảng, bảo đảm cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; không mơ hồ, mất cảnh giác trước âm mưu thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Đồng thời, mỗi cán bộ, chiến sĩ kiên quyết đấu tranh trên mặt trận lý luận tư tưởng, loại trừ chủ nghĩa cá nhân; khơi dậy tinh thần thi đua sáng tạo, phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

DÙNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BẺ GÃY TỪ GỐC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Với yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của công tác đấu tranh tư tưởng trong tình hình mới, nhất là yêu cầu cuộc đấu tranh tư tưởng phải ngày càng đi vào chiều sâu và mang tính hệ thống, thì việc gia tăng số lượng, chất lượng, tần suất, cường độ xuất hiện hệ bài viết chuyên luận lý luận chính trị trên mặt trận thông tin là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản là cuộc đấu tranh lâu dài, không khoan nhượng, rất cam go, quyết liệt, mang tính sống còn. Dã tâm và bản chất của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch không thay đổi, song ở mỗi giai đoạn, thì thủ đoạn, phương tiện, công cụ… chống phá được chúng biến đổi hết sức tinh vi.

Tư tưởng lý luận của chủ nghĩa xã hội ngay từ khi ra đời đã phải đương đầu với sự phê phán, bôi nhọ, xuyên tạc, bài bác, phủ nhận dưới nhiều hình thức khác nhau, với mọi màu sắc của các lực lượng, các trào lưu tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa. Là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng, lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ, thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nên lĩnh vực tư tưởng, lý luận luôn là mũi nhọn tấn công, chống phá chủ đạo của các thế lực thù địch. Do đó, việc giữ vững trận địa tư tưởng, bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, ngăn chặn các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa trong lòng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thuyết phục bằng lý luận sắc bén và thực tiễn sinh động từ thành quả của công cuộc đổi mới, có vai trò quyết định sự thắng lợi trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

Đặc biệt, trong kỷ nguyên số hiện nay, không gian mạng ngày càng trở thành mặt trận chính trong cuộc đấu tranh ý thức hệ. Các thế lực thù địch lợi dụng triệt để những đặc tính vốn là ưu thế nổi trội của các phương tiện truyền thông xã hội, trên môi trường mạng, như đặc điểm về cơ chế đa giao tiếp và liên kết vô hướng; môi trường tự do thông tin (tính mở) và thông tin khó kiểm soát, tính nặc danh và tính đa dạng của người dùng; sự đồng đẳng giữa nguồn phát (source) và người nhận (receiver); khả năng số hóa thông tin, tính đa phương tiện và đa tiện ích…, biến thành công cụ đắc lực chống phá ta, tấn công trực tiếp vào những vấn đề mang tính nguyên tắc then chốt, luận điểm cơ bản nhất thuộc hệ tư tưởng, lý luận của Đảng ta.

Những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch gieo rắc, phát tán trên các nền tảng truyền thông ít nhiều đã gây phân rã tư tưởng, bất đồng thuận trong nội bộ Đảng, trong xã hội, xuất hiện những tư tưởng, quan điểm đánh giá trái chiều, phê phán, công kích đường lối, quan điểm của Đảng; làm trầm trọng thêm tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, khiến không ít tổ chức đảng, đảng viên mất sức chiến đấu; gây mất ổn định về chính trị - xã hội, châm ngòi cho các cuộc biểu tình, đình công, thậm chí bạo động hết sức phức tạp; làm “nhiễu” hệ thống thông tin, giảm uy tín, vai trò định hướng của các cơ quan báo chí chính thống…

Công tác tuyên truyền phản bác lại những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch của các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị, cực hữu chính trị, các thế lực thù địch, phản động trong nước và ngoài nước ngày càng được chúng ta coi trọng, với cách thức tuyên truyền ngày càng hiệu quả, lực lượng tham gia ngày càng đông đảo, qua đó góp phần ngăn chặn, đẩy lùi kịp thời những hoạt động chống phá trên mặt trận tư tưởng. Do tầm quan trọng của công tác đấu tranh tư tưởng, nên Đảng ta đặc biệt quan tâm và ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận có nội dung liên quan tới vấn đề trên; thành lập một số ban chỉ đạo trực tiếp đấu tranh. Các lực lượng chức năng của ta ngăn chặn kịp thời nhiều đối tượng, nhiều luồng thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch, trong đó có cả việc vô hiệu hóa âm mưu thực hiện chiến tranh thông tin, lợi dụng không gian mạng để tập hợp lực lượng, tập dượt vũ trang ảo rồi chuyển hóa thành hoạt động chống phá, bạo loạn, lật đổ thực.

Thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, của Bộ Chính trị, về "Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới", từ năm 2018 đến nay, công tác đấu tranh tư tưởng có những chuyển biến tích cực. Các cơ quan báo chí, nhất là các cơ quan báo chí lớn, quan tâm đầu tư hệ bài viết đấu tranh tư tưởng, cùng với các lực lượng chức năng khác, đã phủ lượng lớn thông tin đấu tranh trên các sản phẩm báo chí chính thống và trên không gian mạng, góp phần phản bác đanh thép và hiệu quả các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kịp thời định hướng dư luận xã hội, nhất là trước các sự kiện, vấn đề chính trị quan trọng của đất nước, của Đảng ta. Tuyến bài viết trên, cùng các biện pháp kỹ thuật của cơ quan nghiệp vụ, góp phần phá thế thượng phong trước đây của những luồng thông tin xấu độc trên không gian mạng của các thế lực thù địch.

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2020

"LÝ LUẬN NHƯ CÁI KIM CHỈ NAM"

Lý luận chính trị là hệ thống tri thức về lĩnh vực chính trị, là một bộ phận quan trọng về lý luận trong lĩnh vực chính trị; mang tính Đảng, tính giai cấp; đồng thời, có tính khái quát hóa, trừu tượng hóa và tính dự báo khoa học cao. Vì vậy, giáo dục lý luận chính trị, bao gồm nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước… là yêu cầu thường xuyên, hằng ngày, bức thiết đối với mỗi bộ, đảng viên.

Thứ Năm, 13 tháng 12, 2018

GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG NHẬN THỨC SAI LỆCH CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VỀ Ý NGHĨA, TẦM QUAN TRỌNG CỦA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Những nhận thức sai lệch của cán bộđảng viên về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận chính trị là rất đáng lo ngại, rất cần kíp có giải pháp và nhiệm vụ để từng bước khắc phục. Các giải pháp, nhiệm vụ này đã từng được Đảng ta nêu ra trong các Nghị quyết về công tác tư tưởng, về công tác cán bộ và xây dựng Đảng nói chung. Vấn đề là cần cụ thể hóa, tập trung hóa và vận dụng sáng tạo trong thực tiễn để có được kết quả cao. Đó là các giải pháp, nhiệm vụ cơ bản sau:

1. Về nhận thức, nâng cao nhận thức cho cán bộđảng viên về vị trí, vai trò của công tác lý luận chính trị. Đổi mới, nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên trẻ, để nắm vững, nhất trí với các mục tiêu, quan điểm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2. Về nghiên cứu lý luậncán bộđảng viên, tùy theo cương vị của mình, có trách nhiệm nghiên cứu, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Làm rõ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin, những vấn đề cần bổ sung và phát triển cho phù hợp với thực tiễn đất nước và thời đại. Đẩy mạnh nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn với triển khai sâu rộng, có hiệu quả cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Cũng như vậy, cán bộ, đảng viên, tùy theo vị trí, điều kiện của mình phải tích cực góp phần làm sáng tỏ những nhận thức, quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta, tập trung vào những vấn đề cấp bách thực tiễn đang đòi hỏi.

Về giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị trong hệ thống các trường chính trị, các trường đại học và trung học chuyên nghiệp trong cả nước. Khắc phục sự lạc hậu của chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, đảm bảo tính cơ bản, hệ thống, hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Tăng cường đào tạo lại, nâng cao trình độ khoa học, bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy các bộ môn Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Về công tác lý luận gắn với thực tiễn, cán bộ, đảng viên góp phần đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận. Coi trọng việc tổng kết thực tiễn trong nhiệm vụ nghiên cứu lý luận và trong hoạt động của các cấp ủy đảng. Coi tổng kết thực tiễn là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp, các ngành. Gắn nghiên cứu thực tiễn Việt Nam với tiếp thu và chọn lọc những thành tựu khoa học của nhân loại.

Công tác lý luận chính trị phải góp phần vào giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội bức xúc, chống chuyển hóa cá nhân, tư tưởng cơ hội thực dụng, chặn đà suy thoái về đạo đức, lối sống.

Cán bộ, đảng viên phải hăng hái góp phần chủ động tấn công, triển khai có hiệu quả cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởnglý luận, làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình”, âm mưu bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam.

NHỮNG NHẬN THỨC SAI LỆCH CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VỀ Ý NGHĨA, TẦM QUAN TRỌNG CỦA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Những nhận thức sai lệch này là một trong các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ) nêu ra.
Ở nước ta, lý luận chính trị, trước hết và cốt lõi là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương và đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, có ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp cách mạng nói chung, công cuộc đổi mới đất nước nói riêng.
Thế nhưng, hiện nay, trong cán bộ, đảng viên còn có những nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận chính trị và từ đó dẫn đến những tác hại khôn lường.
Một là, cán bộ, đảng viên không nhận thức được đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với tính cách là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, hoặc tách rời chủ nghĩa Mác – Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hai là, cán bộ, đảng viên không nhận thức được hết ý nghĩa, tầm quan trọng của chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước.
Ba là, cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập lý luận chính trị không gắn với thực tiễn.
Bốn là, cán bộ, đảng viên không thấy hết được trách nhiệm của hoạt động lý luận chính trị trong đấu tranh tư tưởng.
Với nội dung như vừa nêu trên, đấu tranh tư tưởng là với nhiều đối tượng, lĩnh vực khác nhau và thật sự là một nhiệm vụ rất khó khăn, đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải vừa có lý luận vừa hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; vừa có nhiệt tình cách mạng nhưng đồng thời, phải có bản lĩnh dám đấu tranh, dám chiến đấu với những sai trái, phản động để góp phần thiết thực giữ vững chế độ chính trị và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta.

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC NHẬN THỨC SAI LỆCH TRONG NGHIÊN CỨU, VẬN DỤNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

Một là, về nhận thức. Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò của công tác lý luận chính trị. Đổi mới, nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên trẻ, để nắm vững, nhất trí với các mục tiêu, quan điểm của công cuộc đổi mới, xây dựngvà bảo vệ Tổ quốc.
Hai là, về nghiên cứu lý luận. Cán bộ, đảng viên, tùy cương vị của mình, có trách nhiệm nghiên cứu, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm rõ những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, những vấn đề cần bổ sung và phát triển cho phù hợp với thực tiễn đất nước và thời đại. Đẩy mạnh nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn với triển khai sâu rộng, có hiệu quả cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Cán bộ, đảng viên, tùy theo vị trí, điều kiện của mình phải tích cực góp phần làm sáng tỏ những nhận thức, quan niệm về CNXH và con đường đi lên CNXH của nước ta, tập trung vào những vấn đề cấp bách thực tiễn đang đòi hỏi.
Ba là, về giáo dục lý luận chính trị. Nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị trong hệ thống các trường chính trị, các trường đại học và trung học chuyên nghiệp trong cả nước. Khắc phục sự lạc hậu của chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, đảm bảo tính cơ bản, hệ thống, hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Tăng cường đào tạo lại, nâng cao trình độ khoa học, bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy các bộ môn Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Bốn là, gắn lý luận với thực tiễn. Cán bộ, đảng viên góp phần đẩy mạnh tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận. Coi trọng việc tổng kết thực tiễn trong nhiệm vụ nghiên cứu lý luận và trong hoạt động của các cấp ủy đảng. Coi tổng kết thực tiễn là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp, các ngành. Gắn nghiên cứu thực tiễn Việt Nam với tiếp thu và chọn lọc những thành tựu khoa học của nhân loại.
Công tác lý luận chính trị phải góp phần vào giải quyết những vấn đề kinh tế, xã hội bức xúc, chống chuyển hóa cá nhân, tư tưởng cơ hội thực dụng, ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống. Cán bộ, đảng viên phải hăng hái, chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận; làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, giữ vững độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

TRÁCH NHIỆM CỦA HOẠT ĐỘNG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG HIỆN NAY

Đấu tranh tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng của hoạt động lý luận chính trị. Không thấy hết được trách nhiệm này là làm giảm ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận chính trị, nhất là trong điều kiện hiện nay.
Trong hơn 30 năm đổi mới, cán bộ, đảng viên đã góp phần tích cực đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu; chống “diễn biến hòa bình” và những thoái hóa, biến chất trong nội bộ. Nhưng công tác này vẫn còn nhiều hạn chế:thiếu sắc bén, thiếu sức thuyết phục, tính chiến đấu còn hạn chế, chưa sát thực tiễn và chưa linh hoạt; công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, tư tưởng cơ hội, những quan điểm mơ hồ sai trái chưa được chú trọng; chưa quan tâm đúng mức đến công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống; phạm vi tác động của công tác tư tưởng có dấu hiệu bị thu hẹp; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch còn bị động, hiệu quả thấp.
Đấu tranh tư tưởng không phải là công việc riêng của Đảng, mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, của từng cán bộ, đảng viên. Hoạt động lý luận chính trị không chú ý đến đấu tranh tư tưởng là bỏ trống “trận địa của mình”, mở đường cho âm mưu “diễn biến hòa bình”, là “gieo mầm” cho những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Đấu tranh tư tưởng bao gồm nhiều đối tượng, lĩnh vực khác nhau, là nhiệm vụ rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảngvà pháp luật của Nhà nước; vừa có nhiệt tình cách mạng, có bản lĩnh dám đấu tranh, dám chiến đấu với những quan điểm sai trái, phản động để góp phần giữ vững chế độ chính trịvà con đường đi lên CNXH của nước ta.

NGHIÊN CỨU, HỌC TẬP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CẦN GẮN VỚI THỰC TIỄN

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thống nhất giữa lý luậnvới thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn là thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông...”. Như vậy, cán bộ, đảng viên trong nghiên cứu, học tập lý luận chính trị mà tách rời thực tiễn là một sai lệch lớn, làm giảm ý nghĩa và tầm quan trọng của lý luận chính trị.
Lý luận khoa học phải được hình thành trên cơ sở thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, bằng con đường tổng kết thực tiễn. Do đó, thực tiễn là cơ sở của đường lối và chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Nghiên cứu lý luận, xây dựng đường lối và chính sách là để trả lời những câu hỏi cho phát triển đất nước. Qua thực tiễn để đánh giá sự sát thực của lý luận, hiệu quả lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước. Ngược lại, thực tiễn luôn phải được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận khoa học.
Trong thời kỳ đổi mới, bên cạnh những thành tựu quan trọng trong đổi mới tư duy lý luận, vẫn còn những hạn chế không nhỏ đối với nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn. Đó là công tác lý luận còn lạc hậu trên một số mặt, chưa theo kịp được sự phát triển của thực tiễn đang vận động nhanh chóng, phức tạp; chưa giải đáp được nhiều vấn đề do thực tiễn đất nước đặt ra. Chất lượng các sản phẩm nghiên cứu khoa học chưa cao. Lý luận chưa làm tốt chức năng định hướng cho hoạt động thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Công tác lãnh đạo, quản lý các hoạt động lý luận, chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục lý luậnchính trị trong nhà trường chậm đổi mới, chưa theo kịp trình độ phát triển và yêu cầu của xã hội.
Các cán bộ, đảng viên trong học tập lý luận chính trị chưa có sự so sánh, liên hệ, vận dụng vào vào thực tiễn đất nước, địa phương; nghiên cứu khoa học chỉ khai thác kinh điển một cách thuần túy, không liên hệ thực tiễn để chỉ rõ đượcnhững giá trị lâu bền hay cần bổ sung, thậm chí đã bị thực tiễn vượt qua... Khi thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, không vận dụng sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của ngành, địa phương, đơn vị... để đạt kết quả tốt nhất.
Việc nghiên cứu, học tập, lý luận chính trị tách rời thực tiễn của cán bộ, đảng viên dẫn đến bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Kinh nghiệm có vai trò to lớn trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn. Nhưng, bệnh kinh nghiệm là nhận thức và hành động nhấn mạnh thuần túy đến kinh nghiệm, coi kinh nghiệm là tất cả, coi thường và hạ thấp lý luận; tuyệt đối hóa những kinh nghiệm cá biệt, cụ thể, biến chúng thành những kinh nghiệm phổ biến áp dụng ở mọi nơi, mọi lúc. Bệnh giáo điều lại là nhận thức và hành động tuyệt đối hóa lý luận, coi thường và hạ thấp thực tiễn, áp dụng lý luận không tính đến điều kiện lịch sử cụ thể. Căn bệnh này dễ dẫn đến sai lầm, thất bại trong nhận thức và hoạt động.

Ý NGHĨA, TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH VÀ PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC TRONG LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Chủ trương, đường lối của Đảng là hình thức lãnh đạo cao nhất và tập trung nhất của Đảng đối với Nhà nướcvà xã hội. Chủ trương, đường lối đúng đắn,sáng tạo của Đảng trong công cuộc đổi mới 30 năm qua đã đưa nước ta “đạt đượcnhững thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc”. Để đạt được điều đó, có vai trò của Nhà nước trong việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật phù hợp, được nhân dân ủng hộ, thực thi.
Cán bộ, đảng viên không nhận thức được hết ý nghĩa, tầm quan trọng của chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước dẫn đến “... lười học tập... chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Do đó, cán bộ, đảng viên sẽ nói và làm không đúng theo nghị quyết của Đảng, chính sách của Nhà nước, thậm chí vi phạm pháp luật và dẫn suy thoái tư tưởng chính trị, “xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái”.

Ý NGHĨA, TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG CÔNG TÁC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết hoàn bị, khoa học và cách mạng, làm cơ sở cho nhận thức thế giới và đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân và nhân dânlao động khỏi áp bức, bóc lột, bất công. Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm cơ bản về cách mạng Việt Nam, kết quảcủa sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Nhờ có lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng nước ta phát triển từ tự phát thành tự giác; là nền tảng để Đảng ta có đường lối chính trị đúng đắn lãnh đạo quá trình cách mạng.
Không nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt của lý luận chính trị là không hiểu quá trình vận động khách quan của cách mạng Việt Nam, vai trò của lý luận tiên phong và Đảng tiên phong trong quá trình ấy. Cán bộ, đảng viên có nhận thức sai lệch này dẫn đến sẽ “... lười học chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh...” hoặc học (kể cả ở những nơi đào tạo lý luận chính trị cao cấp) để hoàn chỉnh bằng cấp, đủ điều kiện để được quy hoạch, bổ nhiệm... Việc tách rời chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng ở Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, thực chất là chưa hiểu nguồn gốc hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, và do đó, cũng chính là, coi nhẹ, thậm chí, phủ nhận cả tư tưởng Hồ Chí Minh.
Những sai lệch trong nhận thức đó nếu không được khắc phục sẽ khiến cán bộ, đảng viên “Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.