Hiển thị các bài đăng có nhãn sứ mệnh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sứ mệnh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 20 tháng 9, 2021

SỨ MỆNH THIÊNG LIÊNG CỦA LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TRONG CUỘC CHIẾN CHỐNG COVID-19

Hiện nay, đại dịch COVID -19 đang lan rộng toàn cầu, mỗi ngày chúng lại cướp đi sinh mạng của hàng vạn người. Các hoạt động sản xuất, lưu thông bị đình đốn, ngưng trệ, hàng triệu người thất nghiệp, mất việc làm. Nhiều quốc gia phát triển, thuộc nhóm đầu của thế giới cũng gặp hàng loạt khó khăn, áp lực trong việc đối phó, giải quyết.

Tính đến ngày 8/9, thế giới đã có trên 222 triệu người nhiễm, trên 4,6 triệu người tử vong, trong đó Hoa Kỳ là quốc gia chịu tác động nặng nề nhất, đứng đầu với hơn 41 triệu người nhiễm và gần 670.000 người tử vong. Việt Nam cũng đã có trên 550.000 ca nhiễm và trên 14.000 người tử vong. Để đối phó với đại dịch, Việt Nam đã huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị vào cuộc, trong đó có vai trò hết sức quan trọng của lực lượng vũ trang trên tuyến đầu.

Quán triệt ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương tại hội nghị thứ nhất Quân ủy Trung ương khóa XII “Trong nhiệm vụ phòng chống, khắc phục thiên tai, thảm họa, phòng chống các thách thức an ninh phi truyền thống, Quân đội không quan niệm giúp dân, mà cần xác định đó là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đặc biệt trong thời bình”, lực lượng Quân đội đã sát cánh cùng lực lượng Công an chủ động dự báo từ sớm, từ xa làm tốt công tác tham mưu, chuẩn bị nhân lực, phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho công tác phòng, chống dịch.

Khi tình huống nguy cấp xảy ra tại các địa phương, nhất là TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, theo điều hành của Chính phủ và với tinh thần “phục vụ nhân dân là nhiệm vụ tối thượng”, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ, trong đó có các y, bác sĩ Quân đội, Công an đã không quản hiểm nguy, gác lại cuộc sống riêng, tạm biệt người thân để lao vào vùng dịch, đem lại niềm tin vững chắc cho nhân dân. Những hình ảnh không thể cảm động hơn khi những chiến sĩ Quân đội, Công an không quản nắng mưa đem đến cho từng gia đình, từng người dân những chiếc khẩu trang, những hộp lương khô, thịt hộp do quân nhu sản xuất cùng lương thực, thực phẩm trong những ngày cách ly, tận tâm chăm sóc cho người bệnh tại các cách ly. Có gì thiêng liêng hơn khi lực lượng vũ trang lại tập trung lo hương khói cho những người không may tử vong do dịch bệnh, sau đó chu đáo đem tro cốt về bàn giao lại cho thân nhân từng gia đình.

Theo báo cáo của cơ quan chức năng, trong đợt dịch lần thứ 4, đã có hơn 220.000 lượt cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Công an và dân quân tự vệ được tăng cường hỗ trợ công tác phòng, chống dịch; nhiều cán bộ, chiến sĩ hơn 3 tháng qua không có thời gian nghỉ. Riêng lực lượng Công an từ đợt dịch thứ 4 đến nay đã huy động vào Nam hơn 100.000 lượt cán bộ, chiến sĩ. Mới đây, Bộ Công an cũng vừa điều hơn 5.000 cán bộ và 2.000 học viên, 600 cán bộ y tế của các bệnh viện ngành vào các tỉnh phía Nam hỗ trợ chống dịch.

Các lực lượng vũ trang đã duy trì hàng nghìn tổ chốt, trong đó có 1.900 tổ chốt kiểm soát ở tuyến biên giới để kiểm soát xuất nhập cảnh trái phép, hàng nghìn chốt trong nội địa để tổ chức tuần tra, kiểm soát, làm nhiệm vụ phục vụ việc cách ly tập trung ở các khu phong tỏa, góp phần thực hiện nghiêm giãn cách xã hội, hạn chế người ra đường làm lây lan dịch bệnh. Đã triển khai 190 khu cách ly tập trung, các đơn vị nhường doanh trại đảm bảo việc ăn ở cho 190.000 lượt người. Đã điều động hàng nghìn y bác sĩ, kỹ thuật viên và 600 tấn vật tư trang thiết bị y tế, thuốc men chi viện cho TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam…

Chúng ta nhìn nhận một cách xuyên suốt, toàn diện như vậy để thấy rõ bản chất, sứ mệnh thiêng liêng của lực lượng vũ trang sát cánh cùng nhân dân vượt qua thiên tai, dịch bệnh, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống. Ở đâu, lúc nào dân cần, dân khó thì đều có lực lượng vũ trang sát cánh, chung sức đồng lòng. Đó là sự thật khách quan phản bác các luận điệu sai trái trên mạng internet hiện nay, các thế lực xấu cố tình xuyên tạc bản chất lực lượng vũ trang “không phải vì dân”, “bỏ mặc dân trong đại dịch COVID-19”, từ đó tái diễn điệp khúc đòi phi chính trị hoá, tách lực lượng vũ trang khỏi sự lãnh đạo của Đảng.

Thứ Sáu, 27 tháng 8, 2021

HUỲNH THỤC VY VÀ ĐÁM RÂN CHỦ GIẢ CẦY NÊN BỚT ẢO TƯỞNG!

Lợi dụng những vấn đề biểu tình của một số phần tử quá khích ở Cuba, Huỳnh Thục Vy và một số tên rân chủ giả cầy đã có một số bài viết xuyên tạc, kích động. Trên trang FB cá nhân của mình, Vy viết: "Cuba đã tỉnh. Việt Nam sẽ canh cho hòa bình thế giới một mình. Thiệt là sứ mệnh nặng nề".

Có vẻ như việc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng, rồi quay về thụ án vì tội xúc phạm Quốc Kỳ đã khiến nà rân chủ Huỳnh Thục Vy ảo tưởng đến mức hết thuốc chữa. Trong suy nghĩ của ả và một số kẻ vẫn tự xưng là rân chủ khác vẫn luôn cho rằng việc một số người dân Cuba biểu tình vào những ngày qua là do họ đã thức tỉnh, họ đang đấu tranh đòi dân chủ, và rồi như một hiệu ứng Domino, người Việt Nam cũng sẽ làm những điều tương tự.

Xin thưa với phường zận chủ, người dân Cuba từ trước đến giờ họ đâu có "ngủ" đâu mà bảo người ta "thức", với chả "tỉnh". Hàng chục năm nay, chính phủ và người dân Cuba vẫn kiên cường đấu tranh để chống lại sự áp đặt của Mỹ và các nước Phương Tây lên đất nước họ để mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân của họ.

Một số cuộc biểu tình kia có chăng cũng chỉ là hành động bộc phát của những cá nhân đơn lẻ. Họ vì bị những kẻ xấu xúi giục, lợi dụng để rồi vô tình biến thành quân cờ trong tay những kẻ mưu đồ chính trị. Họ làm sao đại diện cho hết thảy hơn 11 triệu người dân Cuba. Vì thế việc một người bày đặt ra vẻ ta đây học rộng hiểu nhiều, coi việc mấy người gây rối, biểu tình rồi nói người dân Cuba đã "thức tỉnh" thì thật là rất đỗi nực cười.

Đó là chưa kể việc các tổ chức chống cộng dùng photoshop, cắt ghép hình ảnh biểu tình ở xứ nào đó rồi gán cho nó là ở Cuba để tuyên truyền kích động. Âm mưu của đám rân chủ giả cầy quá rõ, chúng muốn lợi dụng vấn đề này hòng làm cho người Việt Nam cảm thấy "bối rối", "bất an" rồi kích động biểu tình, bạo loạn ở Việt Nam.

Giữa lúc đất nước đang chung tay chống dịch, người dân và chính quyền luôn chung sức, đồng lòng để đẩy lùi dịch bệnh. Xem ra âm mưu chúng dày công chuẩn bị, khó lòng thực hiện, bởi người Việt Nam luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Chính phủ. Vì thế, Huỳnh Thục Vy và đám rân chủ giả cầy nên bớt ảo tưởng đi. Đối với cá nhân Vy hãy cố gắng làm tròn trách nhiệm của người mẹ trước khi đi cải tạo đi đã rồi nhanh cải tà quy chính về mà nuôi con. Xuyên tạc, kích động cho lắm, đến lúc lại mọt gông không biết ngày về đâu bà zân chủ cuội ạ!


Thứ Ba, 25 tháng 5, 2021

GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM ĐÃ KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA MÌNH

Đó là lời khẳng định của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tại Lễ kỷ niệm 135 năm Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886-1/5/2021), phát động Tháng Công nhân, Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động năm 2021 diễn ra tại Hà Nội vào sáng ngày 28/4/2021 vừa qua.

Năm 2021, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam chọn chủ đề “Đoàn kết, sáng tạo, vượt khó, phát triển” gắn với việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, để thể hiện tinh thần đoàn kết, sáng tạo trong lao động của giai cấp công nhân Việt Nam, khắc phục mọi khó khăn để phát triển, góp phần thực hiện khát vọng Việt Nam hùng cường.

Tại buổi lễ, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc khẳng định: Trong tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn dành sự quan tâm, chăm lo đặc biệt tới giai cấp công nhân, người lao động và tổ chức công đoàn. Giai cấp công nhân đã khẳng vai trò sứ mệnh lịch sử của mình là giai cấp lãnh đạo cách mạng, là lực lượng nòng cốt trong liên minh công nông, trí thức đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đặc biệt là sau 35 năm đổi mới, công nhân và người lao động đang có mặt trong tất cả các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và thực hiện khát vọng dân tộc.

Nhân ngày Quốc tế lao động 01/5, xin chúc cho toàn thể giai cấp công nhân Việt Nam trên khắp mọi miền Tổ quốc, mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực, mọi lứa tuổi thêm nhiều sức khỏe, thêm nhiều sáng tạo để tiếp tục đóng góp phần to lớn trong xây dựng đất nước, vì khát vọng Việt Nam hùng cường./.

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2021

ĐIỂM NHẤN VỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRONG DỰ THẢO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

Nếu trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, trong phần II “Mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm 2016-2020”, Đại hội đề ra mục tiêu, nhiệm vụ “Xây dựng, phát triển văn hóa, con người” (phần VII) thì trong Dự thảo Báo cáo chính trị (BCCT) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (Dự thảo), tại mục II “Tầm nhìn và định hướng phát triển”, trong đó tại phần VII, đặc biệt nhấn mạnh nhiệm vụ “Xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam”.

Như vậy, so với tiêu đề tại phần VII, mục II giữa hai BCCT có sự thay đổi không chỉ về mặt câu chữ mà còn có sự bổ sung quan điểm, tư duy phát triển văn hóa. Từ “phát triển” được thay bằng từ “phát huy”. Không chỉ xây dựng, phát triển văn hóa, con người nói chung Dự thảo lần này nhấn mạnh vào việc phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam. Điều này phù hợp với chủ đề Đại hội “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa” và bối cảnh, tình hình đất nước trước những yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết đang đặt ra.

Nếu như trước đây, nhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa hướng đến mục tiêu gìn giữ, lan tỏa giá trị, bản sắc dân tộc độc đáo với không ngừng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; xây dựng, phát triển văn hóa để chấn hưng sự xuống cấp về đạo đức xã hội, văn hóa được xem là nền tảng tinh thần, là mục tiêu, động lực của sự phát triển; thì hiện nay, bên cạnh những sứ mệnh, mục tiêu đó, nhận thức về văn hóa ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn, vai trò, chức năng của văn hóa được xem xét ở nhiều chiều cạnh, góc độ với mối tương quan với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, phát triển con người. Trong mối quan hệ với kinh tế, văn hóa được xem là nguồn lực nội sinh, là “sức mạnh mềm” (thuật ngữ lần đầu tiên xuất hiện trong Dự thảo) để thúc đẩy quá trình phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Trong bối cảnh nguồn tài nguyên thiên nhiên khoáng sản ngày càng cạn kiệt thì việc phát huy nguồn lực văn hóa, con người có ý nghĩa quan trọng, bởi đây là nguồn “tài nguyên” đặc biệt có thể tái tạo và không ngừng tạo ra những sản phẩm mới có giá trị với hàm lượng trí tuệ cao. Việt Nam có nguồn tài nguyên văn hóa dồi dào kết tinh ở trí tuệ, phẩm chất, tài năng, sức sáng tạo của các thế hệ trong lịch sử

Để gia tăng “sức mạnh mềm” văn hóa, gắn văn hóa với phát triển kinh tế thông qua đẩy mạnh phát triển du lịch, dịch vụ, Dự thảo nhấn mạnh một trong những nhiệm vụ quan trọng trong chính sách phát triển văn hóa trong hiện tại và những năm tiếp theo là: “Gắn phát triển văn hóa với phát triển du lịch, phấn đấu đưa du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn”. Dự thảo nhấn mạnh và khẳng định quan điểm phát triển ngành công nghiệp văn hóa (một quan điểm mới về văn hóa được đề ra tại Hội nghị Trung ương 9 khóa XI năm 2014 với yêu cầu mới đặt ra, đó là “khẩn trương triển khai phát triển có trọng tâm, trọng điểm ngành công nghiệp văn hóa và dịch vụ văn hóa trên cơ sở xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hoá Việt Nam, vận dụng có hiệu quả các giá trị và thành tựu mới của văn hoá, khoa học, kỹ thuật, công nghệ của thế giới”. Như vậy, để khai thác, phát huy hiệu quả giá trị, tiềm năng, thế mạnh của văn hóa Việt Nam cần thực hiện tốt mối quan hệ hài hòa giữa phát triển văn hóa với phát triển kinh tế, gắn văn hóa với phát triển du lịch, dịch vụ cũng như giới thiệu, quảng bá văn hóa ra thế giới thông qua những sản phẩm của ngành công nghiệp văn hóa. Đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm cần được thực hiện một cách đồng bộ, hiệu quả trong bối cảnh hiện nay nhằm gia tăng “sức mạnh mềm” văn hóa trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

 Bên cạnh nhiệm vụ, mục tiêu phát huy giá trị văn hóa Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Dự thảo cũng đặc biệt nhấn mạnh quan điểm nhất quán phải “gìn giữ tài nguyên văn hóa cho các thế hệ mai sau”, đảm bảo sự phát triển bền vững mang tính liên tục, lâu dài.

Để hiện thực hóa khát vọng xây dựng nước Việt Nam cường thịnh hay như mong ước, khát vọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, “xứng đáng với các cường quốc, năm châu”, việc khơi dậy ý chí, tinh thần, truyền thống văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam được xem là một mệnh lệnh thiêng liêng, là tiếng gọi giục giã, thôi thúc của Đảng, Nhà nước với mỗi người, phải ý thức rõ hơn quyền hạn, trách nhiệm của bản thân đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước là một nội dung quan trọng trong chủ đề Đại hội và cũng là mục tiêu, sứ mệnh của nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIII.

Việc khơi dậy khát vọng phát triển được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết, trong đó vai trò của văn hóa không chỉ là “chất xúc tác” mà phải là “ngọn đuốc soi đường”, cổ vũ, động viên, khơi dậy lòng yêu nước nồng nàn của mỗi người dân, khích lệ tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; khuyến khích tinh thần sáng tạo, tinh thần đoàn kết, ý chí quyết tâm, truyền thống hiếu học, đức tính cần cù, chịu khó, siêng năng, nỗ lực cố gắng vượt qua khó khăn, thử thách của người Việt để viết lên những trang sử mới cho dân tộc.

Trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, truyền thống, sức mạnh văn hóa cần được khai thác, phát huy mạnh mẽ hơn nữa để đất nước phát triển nhanh và bền vững. Văn hóa phải góp phần duy trì sự ổn định xã hội, điều tiết các mối quan hệ, giảm bớt những xung đột bất đồng; là điểm tựa tinh thần, là mục tiêu, là khát vọng cao đẹp mà con người muốn vươn tới, bởi bản chất của văn hóa là nhân văn, hướng thiện, hướng con người đến những giá trị cao quý.

Vì thế, để khẳng định và phát huy vai trò của văn hóa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Dự thảo đề ra nhiệm vụ, cần “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới”. Đây là một trong những nội dung mới trong công tác phát triển văn hóa. Việc nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa dân tộc có ý nghĩa quan trọng, bởi trong văn hóa, giá trị là sự kết tinh những gì tinh túy nhất, được hình thành trong lịch sử, được thời gian kiểm nghiệm, chứng minh, được nhân dân tôn thờ, là niềm khát khao vươn đến của mỗi người. Khi xác định và xây dựng được hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa dân tộc sẽ góp phần định hướng, giáo dục, điều chỉnh hành vi, suy nghĩ của con người theo hướng tiến bộ, tích cực.

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2020

VIỆT NAM THAM GIA LỰC LƯỢNG “MŨ NỒI XANH” – NÂNG CAO VAI TRÒ, VỊ THẾ VÀ HÌNH ẢNH VIỆT NAM

Có thể thấy rõ rằng, việc Việt Nam tham gia lực lượng GGHB của LHQ là một hoạt động đối ngoại quan trọng, thực hiện sứ mệnh quốc tế cao cả, thể hiện vai trò, trách nhiệm của Việt Nam đối với một lĩnh vực trọng yếu của cộng đồng quốc tế. Hoạt động này đã góp phần tăng thiện cảm của quốc tế đối với đất nước, con người Việt Nam.

Cùng với việc thực hiện tốt các hoạt động chuyên môn theo nhiệm vụ được giao, các sĩ quan "mũ nồi xanh" Việt Nam còn tích cực làm công tác dân vận như tham gia dạy học, hướng dẫn người dân bản xứ trồng rau xanh, hướng dẫn các bà mẹ chăm sóc trẻ nhỏ đúng cách, may khẩu trang phòng, chống dịch Covid-19 tặng đồng đội và người dân địa phương... đã tạo ấn tượng đẹp về Bộ đội Cụ Hồ, về đất nước và con người Việt Nam.

Các bệnh viện dã chiến của LHQ bình quân mỗi năm chỉ thu dung khoảng 200 bệnh nhân, thì hai bệnh viện dã chiến của Việt Nam mỗi năm đã thu dung gấp hơn 10 lần, với hơn 2.000 bệnh nhân/bệnh viện. Chính vì hiệu quả công việc và thiện cảm tạo ra mà tỷ lệ các sĩ quan "mũ nồi xanh" của Việt Nam được LHQ đánh giá xuất sắc lên tới 33,3% (10/30 đồng chí được đánh giá), gấp nhiều lần so với mức trung bình khoảng 1-2% sĩ quan "mũ nồi xanh" được LHQ đánh giá là xuất sắc hằng năm theo thông lệ. Hai bệnh viện dã chiến cấp 2 của Việt Nam là những đơn vị có tỷ lệ nữ cao hơn tỷ lệ khuyến khích 15% do LHQ đưa ra, được LHQ biểu dương. Chính từ những kết quả trên mà LHQ đã gửi lời cảm ơn, ca ngợi lực lượng GGHB LHQ của Việt Nam.

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2020

THÁCH THỨC TỪ SỰ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI SỨ MỆNH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Hiện nay, một trong những thách thức gay gắt không thể không đề cập, đó là sự chống phá quyết liệt bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta. Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, hiện nay, đất nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng trên mọi lĩnh vực, nhất là về kinh tế. Quá trình hội nhập đó, chúng ta vừa hợp tác, vừa đấu tranh, trong điều kiện đối tác và đối tượng đan xen, chuyển hóa không dễ nhận biết. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch với bản chất hiếu chiến, phản động vẫn tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng nước ta trên mọi lĩnh vực, bằng mọi hình thức và thủ đoạn thâm độc hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đặc biệt, chúng ra sức lợi dụng và thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; do đó, nêu cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

NHẬN DIỆN THÁCH THỨC TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG ĐỐI VỚI SỨ MỆNH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Cần khẳng định rằng, Đảng ta đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng và xác định rõ vị trí then chốt trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, quyết định sự tồn tại, phát triển của Đảng. Vì thế, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã xác định: công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ số một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Trên thực tế, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị chuyên đề về công tác xây dựng đảng, nhằm đảm bảo cho tổ chức đảng các cấp luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới. Vậy “nút thắt” của vấn đề, hay nói cách khác là thách thức trong công tác xây dựng đảng nằm ở đâu? Câu trả lời là ở việc tổ chức thực hiện chưa đạt yêu cầu, còn nhiều sai phạm. Chúng ta biết, sức mạnh của Đảng là sự đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động trên cơ sở những nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng. Thế nhưng, ở không ít nơi, nguyên tắc tập trung dân chủ chưa được thực hiện nghiêm túc, thậm chí bị vi phạm nghiêm trọng dẫn đến mất đoàn kết nội bộ. Nguy hại hơn, có nơi nhân danh nguyên tắc này để đối phó với cấp trên, cô lập và vô hiệu hóa cấp dưới, biến tổ chức đảng nơi họ phụ trách thành “bầu trời riêng”,... để thực hiện mưu đồ cá nhân, “phe nhóm”, “phường hội”, v.v. Việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình còn nhiều hạn chế, mang tính hình thức và là khâu yếu trong sinh hoạt đảng, chưa trở thành việc làm thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên. Cùng với đó, công tác kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên tiến hành chưa thường xuyên, thiếu chủ động, còn nặng về kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp phòng ngừa cũng là nguyên nhân, thách thức trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

NHẬN DIỆN THÁCH THỨC TỪ NẠN QUAN LIÊU, THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ CỦA MỘT SỐ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐỐI VỚI SỨ MỆNH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Đây không chỉ là thách thức mà còn là nguy cơ lớn khi Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền. Tham nhũng là vấn nạn quốc gia, là “giặc nội xâm” nguy hiểm không kém giặc ngoại xâm như lời Bác Hồ từng chỉ dạy. Vẫn biết tham nhũng là một hiện tượng xã hội mà sự tồn tại của nó luôn gắn liền với nhà nước và rất dễ nảy sinh từ cán bộ “có chức, có quyền”. Tham nhũng xuất hiện với nhiều hình thức, “muôn hình vạn trạng”, từ tiền bạc, tài sản, đất đai, đến tham nhũng chính sách, tham nhũng trong công tác cán bộ, có thể diễn ra ở mọi cấp, mọi lĩnh vực, với nhiều cấp độ, từ tham nhũng lớn đến tham nhũng vặt, v.v. Vì thế, triệt tiêu tham nhũng là việc làm không dễ, nhưng phòng, chống, ngăn chặn, hạn chế tham nhũng cả về mức độ, số lượng vụ việc và tính chất nguy hại của nó thì lại là điều hoàn toàn có thể. Tham nhũng gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng, xói mòn bản chất của Đảng, Nhà nước, làm tha hóa, biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên, giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, tạo cớ cho các thế lực thù địch chống phá, phương hại lớn tới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

NHẬN DIỆN THÁCH THỨC TỪ VẤN ĐỀ “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” ĐỐI VỚI SỨ MỆNH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Đây là điều đặc biệt nguy hiểm mà chúng ta phải hết sức cảnh giác, phòng, chống hiệu quả. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhưng nguyên nhân sâu xa và căn bản nhất là do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XII) về Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, cùng với đánh giá đa số cán bộ có lập trường tư tưởng, bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống giản dị, gương mẫu, có ý thức tổ chức kỷ luật, luôn tu dưỡng, rèn luyện, trình độ, năng lực được nâng lên, phấn đấu, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Cán bộ cấp chiến lược có bản lĩnh chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; cũng đã thẳng thắn chỉ rõ: còn một bộ phận không nhỏ cán bộ có bản lĩnh chính trị chưa thật sự vững vàng, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Nguy hiểm hơn, gần đây có một số cán bộ, đảng viên biểu hiện rõ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đòi “đa nguyên”, “đa đảng”, từ bỏ chủ nghĩa xã hội. Một số cán bộ có biểu hiện sa sút về đạo đức, lối sống, thiếu gương mẫu, thiếu tinh thần trách nhiệm, nói không đi đôi với làm, xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình; sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, thực dụng, chỉ biết và luôn đặt lợi ích riêng của cá nhân, gia đình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc; đặc quyền, đặc lợi, quan liêu, xa dân, v.v. Để nhận diện và có biện pháp phòng, chống, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Tình trạng nêu trên, nếu không được ngăn chặn kịp thời, hiệu quả sẽ làm suy thoái trầm trọng tư tưởng chính trị, phai nhạt niềm tin, lý tưởng, mất sức chiến đấu của đảng viên, tổ chức đảng. Đặc biệt nguy hiểm là, các thế lực thù địch ra sức tận dụng vấn đề này để thực hiện âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì thế, lường trước nguy cơ, chủ động phát hiện, ngăn chặn từ sớm, từ xa mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên là tiền đề để phòng, chống hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tăng cường vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Kinh nghiệm thực tiễn chỉ ra rằng, không thế lực thù địch nào, dù mạnh và hiểm độc đến đâu có thể đánh bại được chúng ta, ngoại trừ chính chúng ta tự làm yếu và tan rã.

NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỨ MỆNH LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam 90 năm qua đã khẳng định vai trò, bản lĩnh, trí tuệ của Đảng trong thực hiện sứ mệnh lịch sử mà dân tộc và nhân dân giao phó. Tiếp nối sự nghiệp vẻ vang đó, hiện nay, Đảng tập trung lãnh đạo nhân dân ta đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, hội nhập quốc tế, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đó là sứ mệnh lịch sử cao cả của Đảng, sự nghiệp vĩ đại của toàn dân, toàn quân trong thời kỳ mới. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, thay đổi nhanh chóng, khó lường, hội nhập quốc tế sâu rộng, tác động nhiều chiều cả tích cực và tiêu cực đối với nước ta càng đòi hỏi Đảng ta phải hết sức tỉnh táo, khôn khéo, giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, các vấn đề có liên quan trong quá trình hội nhập, hợp tác, phát triển gắn với bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Đặc biệt, cần nhận thức đúng những khó khăn, thách thức và những thời cơ, thuận lợi để có giải pháp vượt qua khó khăn, tận dụng cơ hội, chuyển hóa thách thức thành cơ hội cho phát triển. Ở đây xin đề cập một số thách thức đang hiện hữu, mà nếu chúng ta mất cảnh giác và thiếu biện pháp triệt tiêu thì rất dễ trở thành mối hiểm họa đối với đất nước; nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

SỨ MỆNH VÀ THÀNH TỰU VĨ ĐẠI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đất nước ta chìm đắm trong “đêm trường nô lệ” dưới ách thống trị, áp bức, bóc lột tàn bạo của chế độ thực dân - phong kiến. Nhiều phong trào chống thực dân Pháp theo khuynh hướng phong kiến, tiểu tư sản đã diễn ra rộng khắp, liên tục, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia, tiến hành bằng nhiều con đường, từ bạo động đến cải lương, nhưng cuối cùng đều thất bại hoặc bị dìm trong biển máu. Phong trào yêu nước, đấu tranh giành độc lập dân tộc lâm vào khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo. Chính trong bối cảnh đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc với lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, sau nhiều năm bôn ba đã đến được với ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tìm ra con đường giải phóng dân tộc: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Với trí tuệ thiên tài, nhãn quan chính trị nhạy bén, Người ra sức vận động, xúc tiến và chủ trì hợp nhất ba tổ chức cộng sản (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) thành Đảng Cộng sản Việt Nam - chính đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khởi thảo được Hội nghị thành lập Đảng thông qua đã chỉ rõ: chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản; đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và phong kiến; làm cho nước ta được độc lập; giải phóng công nhân và nông dân thoát khỏi ách tư bản; mở mang công nghiệp và nông nghiệp; đem lại mọi quyền lợi tự do cho nhân dân. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn đã mở ra trang mới cho lịch sử dân tộc, chấm dứt khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước của các phong trào yêu nước Việt Nam. Ngay sau khi thành lập, Đảng ta đã quy tụ đoàn kết xung quanh mình lực lượng quần chúng đông đảo, rộng rãi thuộc tất cả các giai tầng xã hội tổ chức các cao trào cách mạng (1930 - 1931, 1936 - 1939, 1939 - 1945) đấu tranh chống thực dân Pháp và phong kiến tay sai, khẳng định vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình, thực sự trở thành người lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Thứ Hai, 16 tháng 12, 2019

SỨ MỆNH CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Suốt gần 90 năm phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam đã được nhân dân ta tin yêu, trìu mến gọi Đảng là “Đảng ta”. Niềm vinh dự, tự hào lớn ấy đã tạo nên sức mạnh to lớn để Đảng ta không ngừng lớn mạnh, trưởng thành và lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của dân tộc đi từ thắng lợi to lớn này đến thắng lợi to lớn khác. Cũng chính thực tiễn ấy là những bằng chứng sinh động khẳng định sứ mệnh của Đảng Cộng sản Việt Nam mà không một thế lực thù địch nào có thể xuyên tạc, phủ nhận được.

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2018

PHẢI CHĂNG GIAI CẤP CÔNG NHÂN HIỆN NAY KHÔNG CÒN SỨ MỆNH LỊCH SỬ?

Không phải như vậy. Một câu trả lời dứt khoát cho những quan điểm sai trái, phản động.
Bởi lẽ, sự vận động tất yếu của lịch sử thế giới trong gần một thế kỷ qua chính là bằng chứng chân thật để phủ nhận tuyên bố đó. Chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn tồn tại và ngày càng phát triển trong cải cách, đổi mới ở các nước xã hội chủ nghĩa còn lại.
Ngược dòng lịch sử, việc phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là công lao của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin và thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga, năm 1917, cùng với sự phát triển phong trào cách mạng thế giới thế kỷ XX đã chứng minh một tất yếu không thể phủ nhận vai trò sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân: Xóa bỏ chủ nghĩa tư bản và xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.
Trong khi đó, bước vào đầu thập niên 1970, thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản đã có những bước phát triển mới do tận dụng được những thành tựu mới của cách mạng khoa học - công nghệ vào phát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nhưng bản chất bóc lột giá trị thặng dư của người lao động làm thuê trong nền sản xuất tư bản không hề thay đổi và ngày càng khắc nghiệt hơn, làm cho giai cấp công nhân ngày càng bần cùng hóa cùng với mỗi bước phát triển của chủ nghĩa tư bản. Do vậy, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản cũng bắt đầu ngay từ lúc họ mới ra đời chống lại “sự bóc lột công nhân, vô sỉ, trực tiếp, tàn nhẫn” của giai cấp tư sản.
Hiện nay, thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng học thuyết Mác vẫn sáng ngời, khẳng định giá trị của nó trong nhận thức chủ nghĩa tư bản hiện đại. Với niềm tin vững chắc vào tính tất yếu thắng lợi của sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân, của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Đảng ta đã chỉ rõ “Chủ nghĩa xã hội trên thế giới từ những thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra những bước phát triển mới, theo quy luật tiến hóa của lịch sử loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.

Thứ Tư, 10 tháng 1, 2018

Bảo vệ nhân dân - sứ mệnh của quân đội và công an nhân dân

Trên thế giới, không có quốc gia nào không có hai lực lượng là quân đội và cảnh sát (công an). Đó là hai lực lượng chủ yếu để bảo vệ đất nước, bảo vệ chế độ chính trị-nhà nước và đương nhiên cũng là bảo vệ đảng chính trị lãnh đạo cầm quyền. Ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), người giữ chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản cũng là người giữ chức vụ cao nhất về đảng trong LLVT.
Ở nước ta, vài năm trở lại đây, trước và sau những vụ việc “nóng” về xã hội, như vụ Formosa Hà Tĩnh gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng ở 4 tỉnh miền Trung; vụ một số trạm thu phí BOT gây ách tắc giao thông (BOT Cai Lậy-Tiền Giang); vụ việc ở xã Đồng Tâm (Mỹ Đức, Hà Nội)… chính quyền địa phương phải điều động cảnh sát có vũ trang đến hiện trường nhằm ngăn ngừa kẻ xấu lợi dụng gây bất ổn định về chính trị-xã hội.
Phòng ngừa và khi cần thì trấn áp tội phạm là một việc làm bình thường theo chức năng, nhiệm vụ được giao của các LLVT. Thế nhưng trên một số mạng xã hội có kẻ post bài lên nói rằng: “Bộ đội, công an đàn áp nhân dân”... Sự khác biệt giữa đàn áp với trấn áp như thế nào? Phải chăng có hiện tượng bộ đội, công an đàn áp nhân dân hay đây chỉ là một thủ đoạn chính trị thâm độc của các thế lực thù địch và những phần tử phản động?
Đàn áp và trấn áp tuy có điểm giống nhau về phương thức hoạt động nhưng khác nhau cơ bản về đối tượng tác động. Đàn áp theo từ điển thì đó là hoạt động của chính quyền, thường là trong xã hội phong kiến, thực dân bằng các công cụ bạo lực, cưỡng chế đa số người dân nhằm bảo vệ chính quyền và chế độ xã hội mà họ đang nắm giữ. Chẳng hạn người ta hay nói: Thực dân Pháp đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta một cách đẫm máu. Trong khi đó, khái niệm trấn áp dùng để chỉ hoạt động của chính quyền hiện hữu bằng công cụ bạo lực, cưỡng chế một số nhỏ, từ cá nhân đến nhóm xã hội vi phạm pháp luật, nhằm bảo vệ trật tự xã hội. Chẳng hạn người ta thường nói: Công an, cảnh sát trấn áp tội phạm để giữ gìn cuộc sống bình yên của nhân dân.
Như chúng ta thấy, những năm gần đây, tình hình chính trị thế giới và khu vực diễn ra phức tạp, nhiều nước lớn đã xem châu Á-Thái Bình Dương, đặc biệt Biển Đông là địa bàn “xoay trục”, là “lợi ích cốt lõi” của mình. Nhờ có đường lối chính trị-quốc phòng đúng đắn, Việt Nam đã giữ vững ổn định chính trị xã hội; duy trì được quan hệ quốc tế dựa trên nguyên tắc hòa bình, bình đẳng cùng có lợi. Tuy nhiên đất nước ta vẫn đang đứng trước nhiều nguy cơ, thách thức.
Đại hội XII của Đảng tái khẳng định 4 nguy cơ. Đó là: (1). Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới; (2). Nguy cơ chống phá, “diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến”, xa rời lý tưởng của Đảng, xa rời lợi ích của nhân dân và mục tiêu xây dựng đất nước đi lên CNXH của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; (3). Nguy cơ tệ nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các tiêu cực xã hội, làm suy yếu Đảng; (4). Nguy cơ về bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước, nhất là chủ quyền biển, đảo trước âm mưu, thủ đoạn các nước lớn”. Trong 4 nguy cơ nói trên, trừ nguy cơ “tụt hậu xa hơn về kinh tế”, 3 nguy cơ còn lại đều có thể dẫn đến sự bất ổn xã hội ở những kịch bản khác nhau, trong đó có thể có bạo loạn, lật đổ… thay đổi chế độ. Bởi vậy, sử dụng các công cụ bạo lực, chuyên chính đối với kẻ thù nhằm ngăn ngừa từ sớm, từ xa các nguy cơ bất ổn đối với chế độ là điều tất nhiên.
Tại Hội nghị Quân ủy Trung ương phiên họp cuối năm 2017 (ngày 15-12-2017), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương, chỉ rõ: “Năm 2018, năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X, quân đội phải nắm chắc tình hình “dứt khoát không được để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống”. Quân đội nâng cao hơn nữa nhận thức về phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, ngăn chặn âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch… “Phải đặc biệt giữ gìn, phát huy hình ảnh, uy tín của quân đội, giữ vững niềm tin yêu của nhân dân đối với quân đội”.
Nhìn lại những năm đầu thế kỷ 21, các thế lực thù địch đã từng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo ở Tây Nguyên gây ra bạo loạn vào năm 2001 và 2004. Nhóm tàn quân FULRO lưu vong ở nước ngoài do Ksor Kơk đứng đầu đã tuyên truyền, dụ dỗ người dân, âm mưu thiết lập “Nhà nước Cộng hòa Đề Ga” ở Tây Nguyên. Quy mô của vụ gây rối ở các tỉnh: Đắc Lắc, Gia Lai và Đắc Nông (ngày 10-4-2004) lên đến gần 10.000 người. Đây là một âm mưu, hành động cực kỳ nguy hiểm, táo bạo, hòng phá hoại sự toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước của dân tộc Việt Nam.
Năm 2016, Formosa (Hà Tĩnh) gây ra ô nhiễm môi trường trên diện rộng thuộc 4 tỉnh miền Trung. Sau khi vụ việc được phát hiện, Formosa đã nhận lỗi, bồi thường thiệt hại và sửa chữa các vi phạm. Thế nhưng ở một số địa bàn thuộc Hà Tĩnh và Nghệ An sau một năm vụ việc được giải quyết, những kẻ cực đoan về chính trị đã huy động, thậm chí ép buộc người dân đi khiếu kiện “đòi bồi thường”, gây mất trật tự an ninh, ách tắc giao thông trên Quốc lộ 1A… Chính quyền đã buộc phải điều động LLVT để xử lý. Có nơi, LLVT đã phải mang theo cả lá chắn và khí tài chuyên biệt để phòng ngừa những phần tử cực đoạn sử dụng bạo lực. Trong những tình huống như vậy, chính quyền không thể không huy động các LLVT tham gia xử lý, tuyên truyền, giải thích cho nhân dân và trấn áp những kẻ cầm đầu. Thực tế cho thấy, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn chú ý giáo dục cán bộ, chiến sĩ quân đội, công an về mối quan hệ gắn bó với nhân dân. Nhất là những lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với Quân đội ta, đó là: “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"; với Công an ta, đó là: “Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính. Đối với đồng sự phải thân ái, giúp đỡ. Đối với Chính phủ phải tuyệt đối trung thành. Đối với nhân dân phải kính trọng, lễ phép. Đối với công việc phải tận tụy. Đối với địch phải cương quyết, khôn khéo”.

Thiết nghĩ, trong bối cảnh chính trị ngày nay, mọi người cần nhận thức đúng vai trò, trách nhiệm của các LLVT; nhận thức đúng quyền và trách nhiệm của người dân, không để những kẻ cực đoan lợi dụng dân chủ, nhân quyền vi phạm pháp luật. Các LLVT của chúng ta ngày nay bên cạnh nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc còn có một sứ mệnh lịch sử không kém phần quan trọng, đó là bảo vệ chế độ xã hội, bảo vệ Nhà nước và bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam.  

Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2017

SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN HIỆN NAY

Hiện nay, mặc dù thế giới có nhiều thay đổi, tiềm ẩn những bất trắc, khó lường, nhưng những tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân sống mãi
Giai cấp công nhân đã, đang biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu cả số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề, nhưng địa vị kinh tế - xã hội của họ không hề thay đổi. Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự hiện diện ngày càng lớn của kinh tế tri thức, toàn cầu hóa, quốc tế hóa... đã làm thay đổi sâu sắc các yếu tố nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Giai cấp công nhân tăng nhanh về số lượng: Nếu vào cuối thế kỷ XIX số lượng công nhân trên thế gới chỉ có khoảng trên 10 triệu thì đến đầu thế kỷ XX là 119 triệu, đến cuối thế kỷ XX đã tăng lên đến trên 660 triệu và đến năm 2003 số lượng GCCN khoảng trên 800 triệu, đến nay số lượng công nhân chắc chắn cao hơn thế. Kết cấu giai cấp công nhân cũng có những biến động: tỷ trọng công nhân trong tổng số lao động chung của xã hội tăng lên; cơ cấu trong giai cấp công nhân có thay đổi, tỷ lệ công nhân trong ngành dịch vụ, công nghệ cao ở Mỹ hơn 71%, Nhật hơn 59%, Đức hơn 58%, Anh hơn 69%, Pháp hơn 66%.
Chủ nghĩa tư bản vẫn còn khả năng phát triển nhưng những mâu thuẫn cơ bản vốn có không những không được khắc phục mà còn tăng lên, chủ nghĩa tư bản tất yếu sẽ bị thay thế bằng CNXH, chủ nghĩa cộng sản. Các mâu thuẫn cơ bản trong chủ nghĩa tư bản biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chủ nghĩa đế quốc với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc với những nước phụ thuộc ngày càng tăng lên. Đặc biệt, sự tích tụ tư bản với một khối lượng khổng lồ đang ngày càng tập trung vào tay một số ít các nhà tư sản, là điều kiện cho phép các nhóm tư bản và cá nhân thu được lợi nhuận kếch sù. Ở nhiều nước tư bản, bình quân tỷ suất chiếm đoạt lợi nhuận là 300%, cá biệt có những nơi lên tới 700% - 800%. Ở Mỹ, 1% người giàu nhất đã làm chủ 40% tài sản, trong khi 80% người dân ở mức thấp nhất làm chủ chỉ có 7% tài sản nước Mỹ. Năm 2011, tại Liên minh châu Âu có 120 triệu người sống trong cảnh nghèo đói. Tổ chức phi chính phủ Oxfam có trụ sở tại Anh, ngày 12 tháng 9 năm 2013 cảnh báo, tới năm 2015, sẽ có thêm 25 triệu người châu Âu rơi vào cảnh đói nghèo. Thực chất sự phát triển của chủ nghĩa tư bản những năm qua chỉ hướng tới phục vụ cho một bộ phận giàu có nhất. Chính điều đó đã làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gây gắt, làm bùng phát nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt của giai cấp công nhân và người lao động chống lại giới chủ tư sản với quy mô rộng khắp. Khởi nguồn là từ “phố Wall” - trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất nước Mỹ (nổ ra vào ngày 14 tháng 9 năm 2012), sau đó, lan rộng ra hàng chục thành phố của Mỹ và các nước thuộc Liên minh châu Âu để phản đối các biện pháp khắc khổ và tỉ lệ thất nghiệp, đói nghèo đang ngày càng gia tăng. Sự phản kháng xã hội mạnh mẽ càng làm bộc lộ bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Khẩu hiệu “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản. Sự thật này một lần nữa chứng minh tính chất phản tiến bộ, phản nhân văn và không bền vững của chủ nghĩa tư bản. Đúng như Mác đã từng nói, chủ nghĩa tư bản đang huỷ hoại chính ngay những nhân tố làm nên sự giàu có của nó là lao độngtài nguyên.
Mặc dù, hiện nay ở nhiều nước tư bản phát triển, đời sống của giai cấp công nhân và người lao động đã được cải thiện, một bộ phận công nhân đã là chủ nhân của một số lượng cổ phiếu nhất định trong công ty và trở thành tầng lớp trung lưu trong xã hội. Đó là kết quả của các cuộc đấu tranh quyết liệt liên tục, bền bỉ của chính bản thân giai cấp công nhân và người lao động chống lại sự quản lý hà khắc và sự áp bức, bóc lột của giới chủ trong suốt nhiều thế kỷ. Nhưng so với tỷ suất bóc lột và những món lợi nhuận kếch xù mà giai cấp tư sản có được thì sự điều chỉnh về chế độ phúc lợi xã hội, an sinh xã hội tiến bộ cho công nhân và người lao động cũng vô cùng nhỏ bé, chỉ tựa như giọt nước trong đại dương lợi nhuận mà nhà tư bản thu được. Suy cho cùng những điều chỉnh của giới chủ theo hướng thỏa mãn ngày càng nhiều hơn những đòi hỏi chính đáng của giai cấp công nhân và người lao động cũng trước hết là vì lợi ích của chính giai cấp tư sản. Sự điều chỉnh, thích nghi chỉ làm dịu đi những mâu thuẫn xã hội, chứ không làm thay đổi bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn giữa trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất với chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, được biểu hiện ở mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với giai cấp tư sản vẫn tồn tại và ngày càng gay gắt, tất yếu chế độ tư bản chủ nghĩa sẽ bị CNXH, CNCS thay thế trong tương lai.
Hiện nay, các nước XHCN còn lại không những không bị sụp đổ mà còn đổi mới, cải cách thành công và tiếp tục vững bước đi lên CNXH. Thành công của công cuộc cải cách, mở cửa ở Trung Quốc, đổi mới ở Việt Nam, cải cách kinh tế ở Lào, kết quả bước đầu của chính sách “cập nhật hoá mô hình kinh tế” ở CuBa,... đã đưa các nước này không chỉ vượt qua được giai đoạn khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, mà còn tạo được những bước đột phá phát triển, là những bằng chứng rõ ràng về sự phục hồi của CNXH.
Đồng thời, sự trỗi dậy mạnh mẽ của phong trào cánh tả ở nhiều nước Mỹ Latinh trong gần hai thập niên qua là bằng chứng sống động về sự bền bỉ của lý tưởng XHCN. Rõ ràng, mặc dù con đường đi lên CNXH đã và đang trải qua những khó khăn, thử thách, nhưng “theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH”. Chủ nghĩa xã hội là hiện thực sinh động, tương lai tươi sáng của nhân loại tiến bộ đang nỗ lực hướng tới...
Trung thành với học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn kiên định với con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nên đã lập nên những kỳ tích vẻ vang. Hiện nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

ĐỂ GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HOÀN THÀNH SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA MÌNH

Trong bối cảnh đất nước ta đang trong thời kỳ quá độ, đời sống của công nhân còn gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, các thế lực phản động và thù địch vẫn âm mưu lợi dụng tình hình này để kích động, lôi kéo công nhân vào các hoạt động nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, làm cho giai cấp công nhân Việt Nam tự đánh mất sứ mệnh lịch sử của mình. Cho nên, trong tình hình hiện nay để cho giai cấp công nhân hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, chúng ta phải thực hiện các giải pháp sau:
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp công nhân, trước nhất là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức công đoàn, nhằm nâng cao vị thế các tổ chức công đoàn để các tổ chức này thực sự trở thành người đại diện và bảo vệ quyền lợi của công nhân.
Hai là, tăng cường bồi dưỡng kiến thức chính trị, pháp luật và nghiệp vụ công đoàn công tác cho cán bộ làm công tác công đoàn để họ có đủ trình độ, kỹ năng giải quyết mối bất hòa giữa người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời và phải tạo cơ chế cho cán bộ công đoàn làm việc hiệu quả.
Ba là, các cơ quan chức năng tiếp tục nghiên cứu hoàn chỉnh hệ thống pháp luật nhất là Bộ luật Lao động, Luật Công đoàn, Điều lệ Công đoàn để thống nhất đảm bảo quyền lợi cho người lao động và người hoạt động công đoàn trong các doanh nghiệp, cả các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,...
Bốn là,  nêu cao hơn nữa vai trò của các cấp chính quyền trong việc phối hợp bảo vệ quyền lợi của người lao động. Nên có các chế tài đủ mạnh để răn đe hạn chế các vụ vi phạm pháp luật của người sử dụng lao động. Đồng thời, các cơ quan chức năng phải nghiên cứu toàn diện về chính sách đối với người lao động cho hợp lý, nhất là cần thay đổi về tiền lương tối thiểu, cải cách đóng bảo hiểm xã hội và đặc biệt là cần can thiệp đúng lúc, đúng chỗ bằng công cụ pháp luật chứ không phải bằng công cụ hành chính. Hơn tất cả, pháp luật lao động phải được hoàn thiện. Nhà nước và các cấp chính quyền cần quan tâm đúng mức và kiểm soát chặt chẽ để bảo vệ quyền lợi của người lao động.

Năm là, cần có giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ công nhân. Nhất là giải quyết các vấn đề bức xúc của công nhân hiện nay như: vấn đề nhà ở, việc làm, công bằng dân chủ và phòng chống tham nhũng...