Hiển thị các bài đăng có nhãn nhân tố. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhân tố. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022

ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ CON ĐƯỜNG TẤT YẾU CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: “Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa”.

Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đại hội toàn quốc lần thứ XI (tháng 01-2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng tôi một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Tại đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Đảng ta tiếp tục khẳng định: Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được  hiện thực hoá. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới, với tất cả sự khiêm tốn chúng ta có thể khẳng định rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam./.

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG LÀ NHÂN TỐ HÀNG ĐẦU QUYẾT ĐỊNH MỌI THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Nhận thức sâu sắc sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam; Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Khi Đảng cầm quyền, lãnh đạo cả dân tộc, được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình và do đó Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp bản chất giai cấp của Đảng, mà là thể hiện sự nhận thức bản chất giai cấp của Đảng một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, vì giai cấp công nhân là giai cấp có lợi ích thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và toàn dân tộc.

Đảng Cộng sản Việt Nam kiên trì lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên; thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ.

Ý thức được nguy cơ đối với đảng cầm quyền là tham nhũng, quan liêu, thoái hóa v.v..., nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hoá v.v... trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị.

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG LÀ NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH MỌI THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Từ khi thành lập đến nay, suốt hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thủ thách để đạt được những thành quả cách mạng to lớn. Đó là thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược và đặc biệt nhất là những thành công to lớn của 35 đổi mới đất nước. Thực tế phát triển đất nước qua hơn 35 năm đổi mới đã cho thấy, Việt Nam từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; mọi mặt đời sống của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng-an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đây là một sự thật lịch sử đã được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ghi nhận và nhân dân Việt Nam tôn vinh chứ không phải giống như những luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch: “Đảng tự vinh danh, tự đeo vòng nguyệt quế vào cổ cho mình quyền cầm đầu nhân dân”. Những thành tựu rất quan trọng của đất nước trong thời gian qua là cơ sở khách quan để khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu đó cũng ngày càng khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc đúng như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã khẳng định trong Diễn văn Kỷ niệm 92 năm ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2022): Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

ĐẢNG LÀ NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH MỌI THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Như chúng ta đã biết, năm 1858, thực dân pháp nổ sung tấn công đà nẵng, mở đầu cuộc xâm lược nước ta. Với lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân ta đã anh dung liên tiếp đúng lên đấu tranh đánh đuổi giặc Pháp xâm lược. Lớp lớp các anh hùng, sĩ phu, hào kiệt như: Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Phạm Hồng Thái... không cam chịu mất nước, không cam chịu làm nô lệ, không sợ hy sinh máu xương đã anh dũng đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp. Song, tất cả các phong trào cứu nước dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu, hào kiệt theo các trào lưu tư tưởng khác nhau lần lượt thất bại. Cách mạng nước ta bị dìm trong biển máu, công cuộc cứu nước lâm vào khủng hoảng, bế tắc...Sau hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác - Lênin con đường cứu nước và tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước, chuẩn bị các tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã vạch ra đường lối đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, lãnh đạo cao trào cách mạng 1930 - 1931, đỉnh cao là Xôviết Nghệ - Tĩnh. Sau 15 năm ra đời, nắm vững thời cơ cách mạng, Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến hành tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trên toàn quốc, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Cũng chính Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta trường kỳ kháng chiến gian khổ suốt 9 năm để làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” và hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; góp phần làm tan dã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới, thúc đẩy phong trào độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hôi trên thế giới. Quá trình lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh giành độc lập dân tộc thống nhất đất nước, hàng chục vạn cán bộ, đảng viên đã bị thực dân, đế quốc xâm lược và bọn tay sai cầm tù, sát hại, hàng vạn đảng viên đã anh dũng hy sinh và đi vào sử sách của dân tộc. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.  Đây là một sự thật lịch sử đã  được nhân loại yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới và nhân dân ta thừa nhận, tôn vinh.

Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90, qua, đặc biệt là những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước sau hơn 35 năm đổi mới đã chứng minh chân lý khách quan: Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN KHÔNG BAO GIỜ LỖI THỜI

Như chúng ta đã biết, chủ nghĩa Mác là sự kế thừa tinh hoa văn hóa nhân loại, trong đó có các nhà tư tưởng về kinh tế, chính trị, triết học trước đó – đây là một cơ sở hiện thực có căn cứ để cho ra đời một học thuyết mới được nảy sinh từ cái cũ.

Chủ nghĩa Mác lần đầu tiên phát hiện ra tính quy luật trong sự vận động của xã hội loài người, trong đó nhân tố quyết định là mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Đây là cơ sở để C.Mác và Ph.Ăngghen dự báo tất yếu loài người sẽ tiến tới chủ nghĩa cộng sản qua một giai đoạn quá độ là chủ nghĩa xã hội.

V.I.Lênin là nước tiếp tục phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen vào thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, trong điều kiện mới khi chủ nghĩa tư bản đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. V.I.Lênin đã có nhiều đóng góp về triết học, kinh tế - chính trị của C.Mác và Ph.Ăngghen tư tưởng về khả năng thắng lợi của cách mạng vô sản ở nước tư bản riêng biệt, xây dựng học thuyết về chính đảng mácxít kiểu mới, tổ chức cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi và vận dụng học thuyết của C.Mác để phân tích, giải quyết hàng loạt vấn đề trong quá trình xây dụng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga và Liên bang Xôviết.

Đến giữa thế kỷ XX, Hồ Chí Minh là người vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam để giải quyết những nhiệm vụ to lớn của cách mạng Việt Nam, đánh đổ những đế quốc to lớn, những kẻ thù hung bạo để giành độc lập, tự do cho dân tộc, bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Điều hiển nhiên và không thể chối cãi là, dù được hiểu theo nghĩa nào thì chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn là khoa học về những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; quy luật về sự phát triển của sản xuất xã hội, về cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động chống lại áp bức, bóc lột, mưu cầu tự do, hạnh phúc; quy luật về cách mạng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa ở Việt Namn, phát triển đi tới chủ nghĩa cộng sản. Vào thời điểm ra đời của học thuyết này, những tác giả của chủ nghĩa Mác – Lênin đã phê phán chủ nghĩa tư bản, chỉ ra bản chất bóc lột, tính quy luật trong sự tồn tại và phát triển của nó. Sự phê phán đó là sâu sắc và phản ánh đúng bản chất của thực tiễn xã hội đương thời. Đó là điều đã được thực tế kiểm nghiệm, được hầu hết các nhà nghiên cứu xã hội thừa nhận cho dù họ theo xu hướng chính trị nào. Từ sự phê phán chủ nghĩa tư bản đương thời, sự phát hiện tính quy luật của lịch sử xã hội loài người và cả từ thái độ nhân văn trước hiện thực tăm tối về sự thống khổ của người lao động dưới ách áp bức, bóc lột về một xã hội tương lai như một tất yếu lịch sử sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản.

Trên thực tế chủ nghĩa tư bản hiện tại vẫn chưa vượt qua ngoài tính quy luật mà chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra, càng chứng minh tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin, sự bóc lột của chủ nghĩa tư bản hiện nay được che đậy dưới lớp vỏ hào nhoáng, mỹ miều hơn, nó đi vào các quốc gia nghèo khổ bằng cửa chính và bóc lột người lao động bằng những luật lệ văn minh, sạch sẽ hơn.

Như vậy, chủ nghĩa Mác – Lênin không thể lỗi thời mà chính những người cố tình phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin mới là những người nhầm lẫn, sai lầm, cố tình không nhìn thấy bản chất khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, hoặc là họ cố tình xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin vì một lý do chính trị, vì muốn xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin để bảo vệ cho chủ nghĩa tư bản và quyền  lợi của một nhóm người tư bản, hoặc được hưởng nguồn lợi không chính đáng từ guồng máy của chủ nghĩa tư bản. Nếu có lỗi thời, chính là lỗi thời ở cách mà chúng ta chưa nghiên cứu đủ sâu sắc, chưa vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin một cách đúng đắn vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội./.

Thứ Ba, 9 tháng 11, 2021

MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VỀ XÂY DỰNG VĂN HÓA, CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ MỚI

Thứ nhất, đẩy mạnh giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn lực con người - động lực quyết định nhất cho phát triển bền vững đất nước

Trong hệ thống động lực phát triển đất nước, Hồ Chí Minh luôn cho rằng xét cho đến cùng, con người chính là nguồn động lực quan trọng nhất, quyết định nhất. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển. Vì vậy, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục, đào tạo cần phải tiếp tục được coi là quốc sách hàng đầu, chiến lược “trồng người” phải trở thành một trong những chiến lược trọng tâm, hợp thành chiến lược phát triển đất nước. Cần giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đức - trí - thể - mỹ, có thể chất, nhân cách, đạo đức, lối sống, ý thức tôn trọng pháp luật, có trách nhiệm công dân. Cần phát huy nhân tố con người để mỗi người Việt Nam đều trở thành động lực góp phần phát triển bền vững đất nước.

Thứ hai, tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam, đặc biệt là giá trị yêu nước

Việt Nam là một quốc gia giàu truyền thống văn hóa tốt đẹp. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của nhân loại. Tuy nhiên, một số giá trị văn hóa dân tộc đang mai một; một số loại hình văn hóa truyền thống có nguy cơ bị biến mất; nhiều luồng văn hóa ngoại lai, biến tướng được tiếp nhận ồ ạt... Trước thực trạng đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, để các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc lan tỏa, thấm sâu vào thế hệ trẻ, để các thế hệ tương lai thêm yêu nước, yêu văn hóa dân tộc, yêu “sử ta” như Hồ Chí Minh từng dặn phải “cho tường gốc tích” nước nhà Việt Nam. Vì vậy, dù ở bất cứ thời điểm nào, giáo dục và phát huy chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ tạo nên nguồn sức mạnh to lớn cho đất nước. phát triển tinh thần yêu nước cũng chính là phát triển giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp nhất của dân tộc ta.

Thứ ba, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển văn hóa với phát triển con người

Văn hóa được coi là một “trụ cột” để phát triển bền vững đất nước, nhưng “trụ cột” văn hóa có mạnh, có kết hợp với các “trụ cột” chính trị, kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh để mang lại sự “vững bền” hay không là phụ thuộc vào nhân tố con người. Con người phát triển toàn diện thì không chỉ “trụ cột” văn hóa mà các “trụ cột” khác như kinh tế, chính trị, xã hội và quốc phòng, an ninh cũng được bảo đảm vì con người chính là yếu tố “nhân hòa” để thực hiện phát triển “hài hòa” các yếu tố cho phát triển bền vững. Con người càng phát triển các giá trị văn hóa dân tộc tốt đẹp cũng được giữ vững và nâng cao. Như vậy, muốn phát triển văn hóa phải chăm lo, phát huy nhân tố con người, phát triển văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với phát triển con người.

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2021

“VŨ KHÍ TỐT MÀ TINH THẦN HÈN, THÌ CŨNG VÔ DỤNG”

Câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài “Máy bay “phản lực” phản Mỹ”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 2135, ngày 04 tháng 8 năm 1952.

Đây là thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của quân và dân ta bước vào giai đoạn quyết liệt; với sự giúp sức của các đồng minh, thực dân Pháp tập trung huy động và đưa vào chiến trường Đông Dương các loại vũ khí trang bị hiện đại nhằm cứu vãn tình thế bất lợi đối với quân đội Pháp đang diễn ra trên chiến trường. Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra đối với Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh phải xây dựng và phát huy tốt nhân tố chính trị, tinh thần cho quân và dân ta, quyết tâm đánh thắng thực dân Pháp xâm lược.

Lênin đã chỉ rõ: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”[2]. Tuy nhiên, nhân tố chính trị, tinh thần không phải tự nhiên mà có, nó là sản phẩm của truyền thống đoàn kết chống giặc ngoại xâm, của tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, hình thành từ nhận thức sâu sắc về tính chất chính nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân tố chính trị, tinh thần đã góp phần làm chuyển hóa lực lượng, tạo thế và lực, kết nối tất cả các nguồn lực, các nhân tố tạo nên sức mạnh tổng hợp của quân và dân ta, là sức mạnh của cả dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại làm nên một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm xưa vẫn vẹn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đặc biệt, thực hiện phương hướng xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, cùng với việc huấn luyện làm chủ các loại vũ khí, trang bị hiện đại, cần phải quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, chăm lo xây dựng nhân tố chính trị, tinh thần; giáo dục, rèn luyện cho bộ đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; nêu cao tinh thần chịu đựng gian khổ, hy sinh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa… hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và quan điểm “vũ khí luận”, tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí, coi nhẹ sức mạnh nhân tố chính trị tinh thần.

Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2021

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG LUÔN LÀ NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH MỌI THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Từ khi thành lập đến nay, suốt hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thủ thách để đạt được những thành quả cách mạng to lớn. Đó là thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược và đặc biệt nhất là những thành công to lớn của 35 đổi mới đất nước. Thực tế phát triển đất nước qua hơn 35 năm đổi mới đã cho thấy, Việt Nam từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; mọi mặt đời sống của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng-an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đây là một sự thật lịch sử đã được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới ghi nhận và nhân dân Việt Nam tôn vinh chứ không phải giống như những luận điệu vu cáo của các thế lực thù địch: “Đảng tự vinh danh, tự đeo vòng nguyệt quế vào cổ cho mình quyền cầm đầu nhân dân”. Những thành tựu rất quan trọng của đất nước trong thời gian qua là cơ sở khách quan để khẳng định: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu đó cũng ngày càng khẳng định vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc đúng như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã khẳng định trong Diễn văn Kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2020): Ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2020

NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THÀNH CÔNG CỦA SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI LÀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Về mặt lý luận, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, thành công của đổi mới và phát triển đất nước là do cả dân tộc làm nên. Nhưng làm thế nào phát huy được sức mạnh toàn dân tộc, làm thế nào tạo nên khối đại đoàn kết thực sự và hướng sức mạnh đại đoàn kết vào đâu... thì lại tùy thuộc vào uy tín và năng lực của lực lượng lãnh đạo và người lãnh đạo đất nước.

Về mặt thực tiễn, toàn bộ sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước trong những năm qua đã chứng minh cho vai trò lãnh đạo không thể thay thế của Đảng Cộng sản Việt Nam. Là đảng cầm quyền, đảng duy nhất lãnh đạo đất nước, lãnh đạo hệ thống chính trị, trong bối cảnh mới của đất nước, trách nhiệm của Đảng lại càng lớn. Nhân dân và đất nước tin tưởng, trông chờ vào Đảng.

Ý thức rõ điều đó, trong tất cả các nhiệm kỳ, bằng ý chí và hành động thiết thực, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được đẩy mạnh, có nhiều kết quả nổi bật, nhất là trong đấu tranh chống tham nhũng dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước. Những kết quả tích cực đó đã tạo được niềm tin tưởng, phấn khởi và ủng hộ của cán bộ, đảng viên và đông đảo các tầng lớp nhân dân với Đảng.

Từ thực tiễn đó, dự thảo Văn kiện trình Đại hội XIII khẳng định rõ hơn yêu cầu đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhắc đến trong bài viết: “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân”.

Hy vọng với sự chuẩn bị kỹ càng, nghiêm túc của toàn Đảng và lời hiệu triệu tâm huyết, đầy trách nhiệm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng sẽ là dấu mốc mới trên con đường phát triển đầy khát vọng của dân tộc ta, đất nước ta.

NHỮNG TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO MANG TÍNH CHIẾN LƯỢC VÀ NGUYÊN TẮC CỦA ĐẢNG

Bài viết “Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới” ngày 31/8/2020 của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tuy ngắn gọn nhưng khái quát hầu như tất cả những gì căn bản và tinh túy nhất của các văn kiện sẽ trình Đại hội lần thứ XIII thông qua. Đó là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt, những bài học kinh nghiệm đúc rút từ 35 năm đổi mới và xây dựng đất nước, là tư tưởng chiến lược phát triển, là quan điểm về động lực và nguồn lực, các nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công của đổi mới, phát triển.

Thứ nhất, phải kiên định trong quá trình đổi mới. Đó là “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Thứ hai, trong thực tiễn lãnh đạo, quản lý, Đảng và Nhà nước phải xử lý tốt các mối quan hệ biện chứng. 

Thứ ba, nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới là vai trò lãnh đạo của Đảng.

Hy vọng với sự chuẩn bị kỹ càng, nghiêm túc của toàn Đảng và lời hiệu triệu tâm huyết, đầy trách nhiệm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng sẽ là dấu mốc mới trên con đường phát triển đầy khát vọng của dân tộc ta, đất nước ta.

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2018

NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM HIỆN NAY

Tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định. Các mâu thuẫn cơ bản vẫn tồn tại dưới những hình thức và mức độ khác nhau, có mặt sâu sắc hơn; đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra gay gắt; những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động ly khai, can thiệp lật đổ, khủng bố, những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ, biển đảo tiếp tục diễn ra với tính chất ngày càng phức tạp. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Đông Nam Á luôn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định. Cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại và xu thế toàn cầu hóa đã và đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống, đặt ra nhiều vấn đề mới cần phải giải quyết trong bảo vệ độc lập, chủ quyền. Trong khi đó, ở trong nước, Đảng ta chỉ rõ: “Bốn nguy cơ mà Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng (năm 1994) nêu lên vẫn tồn tại, có diễn biến phức tạp như tham nhũng, lãng phí, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch với những thủ đoạn mới, nhất là triệt để sử dụng các phương tiện truyền thông trên mạng internet để chống phá ta và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên” đã làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; đe dọa sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta bằng thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm; tranh chấp trên Biển Đông diễn biến gay gắt, phức tạp, gây ra nhiều khó khăn, thách thức đối với sự nghiệp bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc.

Trước những thách thức đó, cần phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của cộng đồng các dân tộc Việt Nam nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp để bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện được điều đó, cần thực hiện đồng thời nhiều giải pháp để biến truyền thống, bản lĩnh, khí phách và trí tuệ của con người Việt Nam thành sức mạnh to lớn nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong điều kiện mới.


Thứ Năm, 1 tháng 3, 2018

Nhân tố tác động đến quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay, các nhân tố tác động đến quan hệ tộc người ở Việt Nam là:
Quan điểm, đường lối cách mạng, trực tiếp là quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước tác động mạnh mẽ, toàn diện đến đời sống, quan hệ, sự nỗ lực vươn lên của các tộc người và quốc gia, đến sự vận động, phát triển của các tộc người, quan hệ tộc người. Mặt khác vai trò tích cực, chủ động, nỗ lực vươn lên của các tộc người là hết sức quan trọng, là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển của các tộc người cũng như quan hệ tộc người.
 Những điều kiện tự nhiên và vấn đề lịch sử - xã hội để lại hoặc mới phát sinh. Lịch sử quan hệ tộc người nước ta chủ yếu là đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, song còn có những va chạm, hiềm khích giữa các tộc người xảy ra đã ảnh hưởng đến quan hệ dân tộc hiện nay. Gần đây, quan hệ giữa các tộc người còn nảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi phải giải quyết. Các nhân tố đó đã, đang và sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến mọi mặt đời sống đồng bào thiểu số. Tùy theo chính sách giải quyết của Nhà nước mà các nhân tố đó tác động tích cực, hay tiêu cực đến quan hệ tộc người.
Những vấn đề mới nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như vấn đề biến đổi, suy thoái môi trường sống, vấn đề di dân, tôn giáo, đất đai hay suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng ở một bộ phận cán bộ, đảng viên... tác động không nhỏ đến đời sống tộc người, quan hệ tộc người hiện nay.
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại và các yếu tố mới của thời đại, xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế có những tác động tích cực và tiêu cực đến sự vận động, phát triển tộc người, quan hệ tộc người. Một mặt, nó tạo điều kiện để các tộc người hội nhập mạnh mẽ trong nước và quốc tế, thúc đẩy và mở rộng quan hệ dân tộc trên mọi lĩnh vực; phát huy tiềm năng và thế mạnh tộc người. Các tộc người nước ta có cơ hội giao lưu, tiếp thu tinh hoa văn hóa, khoa học công nghệ, tri thức... để có thể phát triển nhanh. Mặt khác, nó làm mai một bản sắc tộc người, thâm nhập các yếu tố văn hóa xấu độc, sự tụt hậu trong phát triển do cạnh tranh gay gắt dẫn tới phụ thuộc và lệ thuộc.
Âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ảnh hưởng nhất định đến tộc người, quan hệ tộc người. Chúng luôn tìm cách lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo làm “ngòi nổ” trong chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng nước ta. Chúng xuyên tạc quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước; lợi dụng những khó khăn của đồng bào thiểu số, những hạn chế trong thực hiện chính sách dân tộc của ta để tuyên truyền, kích động phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc. 

Thứ Năm, 8 tháng 2, 2018

Những nhân tố tác động đến việc bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay, việc bảo tồn, phát triển văn hóa các tộc người ở Việt Nam chịu sự tác động của các nhân tố chính sau:
Sự thay đổi môi trường tự nhiên tác động đến văn hóa tộc người. Văn hóa truyền thống các tộc người Việt Nam là sự ứng xử vừa thích ứng, hài hòa với tự nhiên, vừa chinh phục, cải tạo tự nhiên; vừa để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần, vừa để cảm thụ cái hay cái đẹp từ thiên nhiên và phát triển văn hóa ứng xử với thiên nhiên.
Hiện nay, sự phát triển biến đổi của môi trường tự nhiên, của văn minh công nghiệp đòi hỏi văn hóa các dân tộc biến đổi thích ứng. Nếu không tôn trọng tự nhiên, môi trường sinh thái, hủy hoại môi trường sống của con người sẽ tác động tiêu cực đến việc bảo tồn, phát triển văn hóa tộc người.
Toàn cầu hóa, mở cửa, hội nhập quốc tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nền kinh tế thị trường có tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến văn hóa các tộc người. Tùy theo năng lực lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà những nhân tố này ảnh hưởng theo chiều tích cực, hay tiêu cực. Các nhân tố này gây ảnh hưởng tích cực làm đô thị, công nghiệp phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của các tộc người được nâng cao; vai trò cá nhân có cơ hội bộc lộ, phát triển; tinh thần dân chủ được mở rộng; giao lưu hợp tác quốc tế sâu rộng. Ngược lại, khi lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế - xã hội không đúng hướng sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực như làm suy thoái môi trường; giảm sút lối sống cộng đồng, sự ổn định gia đình, bản sắc văn hóa tộc người; xuất hiện lối sống thực dụng du nhập vào.
Đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước tác động đến văn hóa tộc người. Việc hoạch định, thực thi chính sách kinh tế - xã hội và quan điểm, chính sách dân tộc, trực tiếp là quan điểm  phát triển văn hóa của Đảng đúng đắn sẽ góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, bảo tồn, phát triển văn hóa các tộc người và ngược lại. Khi văn hóa các tộc người được bảo tồn, phát huy sẽ góp phần đắc lực cho việc văn hóa hóa việc nhận thức, tuyên truyền, thực hiện quan điểm, đường lối chính trị của Đảng, Nhà nước.
Đời sống tinh thần xã hội, trước hết là tư tưởng, đạo đức, lối sống tác động đến văn hóa tộc người. Đây là sự tác động biện chứng nội tại trong nền văn hóa tộc người. Văn hóa, truyền thống các tộc người luôn vận động, biến đổi, phát triển. Trong di sản văn hóa truyền thống của các tộc người ở Việt Nam vừa có những giá trị, vừa có những phản giá trị, hủ tục lạc hậu tác động hai chiều đến bảo tồn, phát triển văn hóa các tộc người. Nâng cao tính toàn diện, đồng bộ văn hóa tinh thần của các tộc người Việt Nam là nội dung quan trọng trực tiếp của bảo tồn, phát triển văn hóa tộc người. 

Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2018

NGUYỄN ÁI QUỐC LÀ NHÀ CÁCH MẠNG VIỆT NAM ĐẦU TIÊN ĐÃ Ý THỨC ĐƯỢC SỰ CẦN THIẾT PHẢI CÓ ĐẢNG - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CỦA SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG

Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (03-02-1930) cách đây 88 năm là sự đáp ứng yêu cầu phát triển khách quan của phong trào yêu nước và cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân ta cần thiết có một bộ tư lệnh trung kiên, sáng suốt lãnh đạo, nhằm đưa cuộc đấu tranh của dân tộc chuyển sang một thời kỳ mới, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Mặt khác, sự ra đời của Đảng ta cũng gắn liền với những nỗ lực của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong việc chuẩn bị những tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức, góp phần đẩy nhanh sự chín muồi khách quan, dẫn tới sự thành lập của Đảng, mở ra bước ngoặt mới, vĩ đại cho cách mạng Việt Nam.
Sự ra đời của các Đảng chính trị là sự phản ánh trình độ trưởng thành nhất định của cuộc đấu tranh giai cấp hay dân tộc, khi các lực lượng chính trị ý thức sâu sắc được mục đích của mình, thấy rõ sự cần thiết phải liên kết lại trong một tổ chức chặt chẽ nhằm thống nhất tư tưởng và hành động để lôi cuốn quần chúng tham gia đấu tranh cho những mục đích mà họ theo đuổi. Ớ châu Âu, các chính đảng tư sản xuất hiện khá sớm, từ cuối thế kỷ XVIII, trong thời kỳ cách mạng tư sản Pháp 1789. Các đảng công nhân xuất hiện muộn hơn, phải trải qua giai đoạn đấu tranh từ tự phát đến tự giác, vượt qua thời kỳ "đồng copec đầm lầy” đến với mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội khoa học, xây dựng chính đảng của giai cấp vô sản theo đúng những nguyên tắc về chính trị, tư tưởng, tổ chức của V.I.Lênin để trở thành một đảng mácxít kiểu mới,... đó là cả một quá trình lịch sử lâu dài,từ những năm 30 của thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX.
Ở Việt Nam, theo nhận định của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, từ khi Pháp xâm lược, phong trào yêu nước của Việt Nam phát triển mạnh, nhưng "đó là một sự hỗn hợp giữa chủ nghĩa phản đế, chống công giáo và Cần Vương", mà "không có một tổ chức nào như một đảng"1 . Đúng là trước khi Nguyễn Ái Quốc lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đầu năm 1925, ở Việt Nam chưa thật sự xuất hiện một tổ chức nào đáng gọi là một chính đảng theo đúng nghĩa của nó.
Năm 1905, sau khi Nhật thắng Nga, ở Việt Nam dấy lên phong trào Đông Duy tiếng là phong trào nhưng không có tổ chức. Duy tân hội chỉ là hữu danh vô thực. Khi Pháp - Nhật cấu kết với nhau trục xuất Phan Bội Châu và số học sinh Việt Nam ra khỏi nước Nhật, thì phong trào cũng tan. Sau Cách mạng Tân Hợi 1911, Phan Bội Châu có lập ra Việt Nam Quang phục hội (tháng 6-1912) với tôn chỉ "đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục Việt Nam, kiến lập Việt Nam Cộng hòa dân quốc". Nhưng như Phan Bội Châu đã tự thừa nhận: Hội "mới lọt lòng mẹ ra, mới thử một tiếng khóc thì đã biết triệu chứng là khó sống lâu rồi” .
Phan Chu Trinh đã viết: "Ngày nay, muốn độc lập, tự do, phải có đoàn thể,..." nhưng ông chỉ mới nói mà chưa làm. Còn Đảng lập hiến (1923) thì như Nguyễn Ái Quốc nhận định "đó không phải là một đảng có tổ chức, mà đơn thuần, một vài nhà trí thức theo kiểu Pháp đặt tên đảng. Những thủ lĩnh của đảng này là những người theo quốc tịch Pháp". Dù sao thì các đảng kiểu đó cũng không thể lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam đi đến thành công, bởi nó thiếu một đường lối chính trị và tổ chức đúng đắn chặt chẽ, lại không có cơ sở rộng rãi trong quần chúng, thường chỉ có danh không có thực, nên sớm muộn cũng đều tan rã và thất bại.
Nguyễn Ái Quốc, ngay từ khi về Quảng Châu mở các lớp huấn luyện chính trị, đã đặt vấn đề: "Cách mệnh trước hết phải có cái gì?" và Người khẳng định: "Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công”. Người chỉ ra tấm gương của cách mạng Nga: "Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin".
Như vậy, Nguyễn Ái Quốc không những là người Việt Nam đầu tiên nhận thức được tầm quan trọng và cần thiết phải có đảng lãnh đạo mà còn chỉ ra rằng, đảng đó phải là một đảng kiểu mới, tức là phải khác về chất so với các đảng, các hội chỉ tồn tại trên danh nghĩa trước đây. 

Thứ Bảy, 9 tháng 12, 2017

SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN TÍNH NHÂN DÂN, TÍNH DÂN TỘC CỦA QUÂN ĐỘI TA



 Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và lãnh đạo. Thực tiễn xây dựng, trưởng thành, chiến thắng của quân đội ta trong 70 năm qua đã chứng minh: Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội.
Việc xác lập, củng cố và không ngừng hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là một bảo đảm cho Đảng nắm chắc quân đội trong mọi tình huống, quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có chất lượng tổng hợp tốt và sức mạnh chiến đấu cao. Ngay từ khi Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập (ngày 22/12/1944) - tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, Đảng đã lập ra chi bộ để lãnh đạo Đội và đặt chức danh chính trị viên bên cạnh đội trưởng, đây là cơ chế lãnh đạo đầu tiên của Đảng đối với quân đội.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược (1945 - 1954) dù hoàn cảnh khó khăn hay thuận lợi, Đảng ta luôn giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo đối với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Từ tháng 4/1945 đến tháng 5/1946, Đảng thực hiện chế độ chính trị uỷ viên ở các khu và liên khu; từ tháng 5/1946 đến tháng 9/1947, Đảng thực hiện chế độ chính trị viên bên cạnh người chỉ huy quân sự. Từ tháng 10/1948, Đảng thực hiện chế độ chính trị uỷ viên đại diện Đảng (chế độ chính uỷ tối hậu quyết định) từ cấp trung đoàn trở lên. Tuy nhiên, trong thực tế “chế độ chính uỷ tối hậu quyết định” đã bộc lộ một số hạn chế, nên đến 9/1949 đã có những thay đổi, thực chất là trở lại mô hình đoàn trưởng, đội trưởng - chính uỷ, chính trị viên.
Từ tháng 7/1952 đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp, trong cả cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và cho đến tháng 12/1982, Đảng thực hiện cơ chế “Đảng uỷ lãnh đạo, thủ trưởng quân chính phân công phụ trách”. Đánh giá cơ chế này, Đảng ta khẳng định: “Thực tế xây dựng quân đội ta chứng tỏ chế độ Đảng uỷ lãnh đạo, thủ trưởng phân công phụ trách là thích hợp nhất để quán triệt sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng trong quân đội. Chế độ này đã thực hiện đúng nguyên tắc tổ chức cơ bản là tập trung dân chủ, nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng là tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Nó tập trung quyền lãnh đạo vào tập thể, tập trung được trí tuệ của nhiều người làm cho sự lãnh đạo được toàn diện, sát quần chúng, sát thực tế. Nó kết hợp được chặt chẽ các mặt công tác của Đảng trong quân đội, bảo đảm vững chắc sự thống nhất tư tưởng và hành động, nguồn gốc sức mạnh của Đảng.
Từ tháng12/1982 đến tháng 7/1985, Đảng thực hiện chế độ một người chỉ huy theo Nghị quyết số 07/NQ-TW của Bộ Chính trị khoá V; từ tháng 7/1985 đến tháng 7/2005, Đảng tiếp tục thực hiện chế độ một người chỉ huy theo Nghị quyết 27/NQ-TW của Bộ Chính trị khoá V. Sau 23 năm thực hiện chế độ một người chỉ huy đã bộc lộ những hạn chế, bất cập ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, vì vậy ngày 20/7/2005 Bộ Chính trị, khoá IX đã ra Nghị quyết số 51/NQ-TW “Về việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính uỷ, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, nhằm “nâng cao chất lượng xây dựng Quân đội, đặc biệt là nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, bảo đảm cho Quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là lực lượng chính trị - lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa và của nhân dân, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống”.
Nhìn lại lịch sử hơn 70 năm qua, Đảng đã có nhiều lần bổ sung, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Trong những lần ấy có thể thấy chức trách, nhiệm vụ, vị trí, quyền hạn, các mối quan hệ của các tổ chức, các bộ phận hợp thành cơ chế lãnh đạo của Đảng có thể thay đổi, nhưng mục tiêu giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo vững chắc của Đảng đối với quân đội trong mọi hoàn cảnh, tình huống là nguyên tắc nhất quán, bất di bất dịch; bảo đảm cho quân đội phát triển, không ngừng lớn mạnh đủ sức hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được Đảng xác định.


Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

Những nhân tố nào tác động đến việc bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay, việc bảo tồn, phát triển văn hóa các tộc người ở Việt Nam chịu sự tác động của các nhân tố chính sau:
Sự thay đổi môi trường tự nhiên tác động đến văn hóa tộc người. Văn hóa truyền thống các tộc người Việt Nam là sự ứng xử vừa thích ứng, hài hòa với tự nhiên, vừa chinh phục, cải tạo tự nhiên; vừa để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần, vừa để cảm thụ cái hay cái đẹp từ thiên nhiên và phát triển văn hóa ứng xử với thiên nhiên.
Hiện nay, sự phát triển biến đổi của môi trường tự nhiên, của văn minh công nghiệp đòi hỏi văn hóa các dân tộc biến đổi thích ứng. Nếu không tôn trọng tự nhiên, môi trường sinh thái, hủy hoại môi trường sống của con người sẽ tác động tiêu cực đến việc bảo tồn, phát triển văn hóa tộc người.
Toàn cầu hóa, mở cửa, hội nhập quốc tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nền kinh tế thị trường có tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến văn hóa các tộc người. Tùy theo năng lực lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà những nhân tố này ảnh hưởng theo chiều tích cực, hay tiêu cực. Các nhân tố này gây ảnh hưởng tích cực làm đô thị, công nghiệp phát triển; đời sống vật chất, tinh thần của các tộc người được nâng cao; vai trò cá nhân có cơ hội bộc lộ, phát triển; tinh thần dân chủ được mở rộng; giao lưu hợp tác quốc tế sâu rộng. Ngược lại, khi lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế - xã hội không đúng hướng sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực như làm suy thoái môi trường; giảm sút lối sống cộng đồng, sự ổn định gia đình, bản sắc văn hóa tộc người; xuất hiện lối sống thực dụng du nhập vào.
Đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước tác động đến văn hóa tộc người. Việc hoạch định, thực thi chính sách kinh tế - xã hội và quan điểm, chính sách dân tộc, trực tiếp là quan điểm  phát triển văn hóa của Đảng đúng đắn sẽ góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, bảo tồn, phát triển văn hóa các tộc người và ngược lại. Khi văn hóa các tộc người được bảo tồn, phát huy sẽ góp phần đắc lực cho việc văn hóa hóa việc nhận thức, tuyên truyền, thực hiện quan điểm, đường lối chính trị của Đảng, Nhà nước.

Đời sống tinh thần xã hội, trước hết là tư tưởng, đạo đức, lối sống tác động đến văn hóa tộc người. Đây là sự tác động biện chứng nội tại trong nền văn hóa tộc người. Văn hóa, truyền thống các tộc người luôn vận động, biến đổi, phát triển. Trong di sản văn hóa truyền thống của các tộc người ở Việt Nam vừa có những giá trị, vừa có những phản giá trị, hủ tục lạc hậu tác động hai chiều đến bảo tồn, phát triển văn hóa các tộc người. Nâng cao tính toàn diện, đồng bộ văn hóa tinh thần của các tộc người Việt Nam là nội dung quan trọng trực tiếp của bảo tồn, phát triển văn hóa tộc người.