Hằng tháng và trong đánh
giá, xếp loại đảng viên cuối năm phải nâng cao chất lượng tự phê bình và phê
bình. Để làm được việc đó, các cấp uỷ đảng phải xác định chỉ có kiểm điểm từ
phê bình và phê bình một cách thật sự mới có ý nghĩa thiết thực trong giáo dục
đạo đức lối sống. Vì vậy, cần có cơ chế, khơi dậy tính tiền phong gương mẫu, sự
dũng cảm trong tự phê bình và phê bình của người lãnh đạo đứng đầu cấp uỷ để
làm gương cho các cán bộ, đảng viên trong từng chi bộ. Chỉ có vậy mới có thể
phát hiện các hành vi tham nhũng, suy thoái đáo đức, lối sống sau kiểm điểm.
Đây là cách tốt nhất để làm tốt công tác “xây” và “chống” trong công tác xây dựng
và chính đốn Đảng hiện nay.
Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM ĐIỂM TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRONG SINH HOẠT ĐẢNG HIỆN NAY
Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022
KẾT HỢP “XÂY ĐI ĐÔI VỚI CHỐNG” TRONG RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY
Đây là nội dung có tính
nguyên tắc nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Thực chất của vấn đền
trên phản ánh rõ mỗi quan hệ biện chứng giữa hai mặt “xây” và “chống”, trong đó
lấy "xây" làm chính, giữ vai trò nòng cốt đối với các chủ thể nâng cao đạo đức
cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Do vậy, để nâng cao nâng cao đạo đức cách mạng
cho cán bộ, đảng viên hiện nay. Mọi chủ thể cần quán triệt và thực hiện tốt: tiến
hành thường xuyên, liên tục, kiên trì, bền bỉ và có kế hoạch nhằm phòng, chống
những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống
trong đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa
XII, Khóa XIII). Phải thường xuyên chú trọng xây dựng văn hóa tổ chức, văn hóa
cá nhân để tạo ra sức đầy “kháng” với những tiêu cự hách dịch, tham ô, tham
nhũng, thái hóa phẩm chất đạo đức cách mạng. Cùng với đó, phải chủ động, tích cực
đấu tranh, ngăn ngừa có hiệu quả nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư
tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên. Đây là yêu cầu quan trọng, biện pháp
có tính cấp thiết trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Để xây dựng Đảng ngày
càng trong sạch, vững mạnh, cần đặt trọng tâm vào một số nội dung cơ bản. Trong
đó, cần coi trọng đạo đức cách mạng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. “Thái
độ xem nhẹ việc trau dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng, chưa nghiêm túc thực hiện
phê và tự phê bình… khiến không ít cán bộ, đảng viên sa ngã trước những cám dỗ
đời thường”. Sự không chiến thắng, không vượt qua nổi cái “tôi” nhỏ bé để thành
nô lệ của những ham muốn cá nhân ở một bộ phận cán bộ, đảng viên vừa là nguồn gốc
sâu xa, vừa là sự tiếp tay dẫn đến những tệ nạn như tham nhũng, hối lộ, cửa quyền,
mất đoàn kết… Chủ nghĩa cá nhân là một trong những nguy cơ tiềm ẩn, thường
xuyên bởi nó núp ngay trong bản thân mỗi con người”. Vì vậy, “phải làm sao cho
phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu mất dần đi,
đó là thái độ của người cách mạng”. Muốn vậy, đồng thời với việc giáo dục, rèn
luyện đạo đức cách mạng phải đi đôi với kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá
nhân, chống những hành vi phi đạo đức.
Đảng cần chú ý đẩy mạnh công tác kiểm tra, thực hiện phê bình và tự phê bình để đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân trong các tổ chức Đảng, trong bộ máy Nhà nước, đấu tranh loại bỏ hàng trăm thứ bệnh do chủ nghĩa cá nhân gây ra vì nó là vật cản nguy hiểm cho việc xây dựng đạo đức cách mạng. Xây phải đi đôi với chống, với việc loại bỏ cái sai, cái xấu, cái vô đạo đức trong đời sống hằng ngày, để xây và chống có kết quả phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi.
Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022
TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH – “THANG THUỐC HAY NHẤT” ĐỂ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG
Trong tiềm thức của mỗi
người dân Việt Nam cũng như trong quan niệm của Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt
Nam không đơn thuần là một Đảng chính trị, thực hiện các chức năng tổ chức,
lãnh đạo giai cấp mà Đảng luôn là một cơ thể sống hoàn chỉnh, có đạo đức và trí
tuệ - Đảng là “đạo đức, là văn minh”. Vai trò lãnh đạo của Đảng là to lớn,
tổ chức của Đảng là chặt chẽ, kỷ luật, đường lối của Đảng là sáng suốt, đúng đắn;
đảng viên của Đảng là những người ưu tú nhất song không phải là Đảng không có
những sai lầm, khuyết điểm. Tuy nhiên, những sai lầm, khuyết điểm của Đảng là
có thể khắc phục, sửa chữa được, vì Đảng có chủ nghĩa Mác - Lênin soi đường,
xác định rõ tôn chỉ mục đích là phục vụ nhân dân, đặc biệt là có phê bình và tự
phê bình. Tự phê bình và phê bình giống như chiếc gương soi, như người bạn
đồng hành, soi đường, chỉ lối cho mỗi cán bộ, đảng viên trong mỗi bước đi để
tránh “vết xe đổ” của chính mình và của người khác. Lãnh tụ thiên tài Hồ Chí
Minh đã sớm nhận ra quy luật ấy. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định mục đích tự
phê bình và phê bình là để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ, giữ gìn đoàn
kết và thống nhất trong nội bộ. Hồ Chí Minh khẳng định, tự phê bình và phê bình
chính là “thang thuốc hay nhất”, “thang thuốc thánh” để phòng, chống tham
nhũng. Để tự phê bình và phê bình đem lại kết quả phải “khéo dùng cái vũ khí sắc
bén” ấy, để không bị kẻ xấu lợi dụng vào việc công kích, nói xấu, triệt hạ
nhau. Khi gặp khó khăn thì tự phê bình và phê bình để thống nhất tư tưởng, ý
chí và hành động, dũng cảm vượt qua khó khăn. Khi thuận lợi thì tự phê bình và
phê bình, để nhận rõ thách thức ở phía trước, không chủ quan “ngủ quên trên
vòng nguyệt quế”. Khi mắc khuyết điểm, sai lầm, kể cả tội lỗi xấu xa, đê tiện
nhất thì “Phê bình và tự phê bình như uống thuốc xổ. Xổ rồi thì phải
uống thuốc bổ. Tháo xe đạp ra chùi cho sạch bụi, lúc lắp vào phải cho
dầu mỡ, xe mới chạy được”. Tự phê bình và phê bình là một vấn đề rất
nhạy cảm, đụng chạm đến từng cá nhân và tổ chức. Tâm lý của con người là
thích được khen hơn bị chê. Mọi người dễ cho rằng tự nói ra khuyết điểm, tự nhận
khuyết điểm nghĩa là tự thừa nhận sự non kém của mình. Điều này dễ liên lụy đến uy
tín, chức tước, địa vị và thứ bậc nghề nghiệp, vì “người ta hay có lòng tự ái.
Thừa nhận cái sai, cái dốt, cái kém của mình, thì sợ mất thể diện, mất uy tín,
mất địa vị”. Vì vậy, Hồ Chí Minh cho rằng muốn tự phê bình và phê bình căn
bệnh tham ô đòi hỏi phải có hai yếu tố đặc biệt quan trọng đó là thái độ và
phương pháp đúng.
Thứ nhất, thái độ
đúng là yếu tố rất quan trọng giúp ngăn ngừa tham nhũng ngay khi nó còn
trong trứng nước, thể hiện ở tinh thần cầu thị, lắng nghe, thấu hiểu, cảm thông
chia sẻ, dũng cảm, kiên trì đấu tranh trên tình đồng chí thương yêu, giúp đỡ
nhau. Nếu thái độ không đúng dễ dẫn đến bao che, giấu giếm khuyết điểm, dễ gây
hiềm khích, mất đoàn kết, mất niềm tin đối với đồng chí mình. Nó càng đặc biệt
nguy hại khi tự phê bình và phê bình hành vi tham ô bị lợi dụng làm bình phong
cho ai đó vì mưu đồ cá nhân, vì lòng hẹp hòi, đố kỵ, hòng hạ bệ đồng chí mình
gây mất đoàn kết nội bộ, làm hoang mang mất niềm tin trong nhân dân. Do đó, tự
phê bình và phê bình “phải ráo riết, và phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành
thật, mà ráo riết phê bình đồng chí mình. Hai việc đó phải đi đôi với
nhau”. Hồ Chí Minh cũng lưu ý, thái độ khoan dung, nhân ái cần phù hợp với
từng đối tượng cụ thể, với tính chất mức độ của khuyết điểm, sai lầm, tuyệt đối
không được cào bằng; phải kiên quyết xét rõ công - tội, không thiên tư,
thiên vị. Với những cán bộ, đảng viên biết ăn năn, hối cải, Đảng cần khoan
dung, độ lượng tạo cơ hội cho họ sửa chữa khuyết điểm, sai lầm. Quan điểm
trên không chỉ thể hiện bản chất nhân văn của Đảng Cộng sản Việt Nam mà còn
khơi gợi ý thức tự giác ở mỗi cán bộ, đảng viên trong tu dưỡng, rèn luyện bản
thân.
Thứ hai, phương pháp
đúng - đây là vấn đề mấu chốt nhất cần phải có. Theo Hồ Chí Minh, phương
pháp hiệu quả nhất đó là phải được duy trì thường xuyên và trên cơ sở đề cao
trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên. Trong bài “Tự phê bình”,
Hồ Chí Minh căn dặn: “Ngày nào cũng phải ăn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn,
thì ngày nào cũng phải tự phê bình cho khỏi sai lầm”. Trong sinh hoạt,
mỗi cán bộ, đảng viên phải chỉ ra cho đồng chí mình những tác hại, nguyên nhân
dẫn đến khuyết điểm sai lầm. Đồng thời, phải thường xuyên quan tâm hướng dẫn, động
viên, kiểm tra, theo dõi quá trình sửa chữa khuyết điểm, sai lầm của đồng chí,
đồng nghiệp. Hồ Chí Minh đặc biệt phê phán các biểu hiện hình thức, thiếu nhất
quán “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, “nói không đi đôi với làm”, “nói một
đàng làm một nẻo”, nặng về hô hào khẩu hiệu, bệnh thành tích… sẽ làm giảm hiệu
quả, đôi khi phản tác dụng của việc tự phê bình và phê bình. Để đề cao trách
nhiệm nêu gương theo Người cần phải chú trọng nêu gương trong Đảng trước, nhất
là trách nhiệm nêu gương của cán bộ cao cấp. Người chỉ rõ: “Muốn tự phê bình và
phê bình có kết quả, cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cao cấp phải làm gương trước”.
Bởi vì, “uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và
phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm để đưa công việc ngày
càng tiến bộ chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê
bình”.
Việc tự phê bình và phê bình hành vi tham ô phải gắn liền với những điều kiện cụ thể, phù hợp với đặc điểm, hoàn cảnh của từng cá nhân trên từng cương vị công tác. Ở mỗi đơn vị, trong từng hoàn cảnh, nội dung, cách thức tiến hành phải phù hợp với điều kiện khi thực hiện tự phê bình và phê bình. Những cán bộ, đảng viên có tinh thần cầu thị sẽ thấy việc tự phê bình và phê bình là thang thuốc hay để trị bệnh tham ô. Còn đối với những trường hợp suy thoái, nhất là tha hóa, biến chất thì việc phê bình không còn nghĩa lý gì. Do vậy, chỉ phê bình thôi chưa đủ mà cần kết hợp với các biện pháp khác, nhất là việc kiểm soát quyền lực.
Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021
CHỮA BỆNH KHOE MẼ CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN
Từ xa xưa trong xã hội đã
xuất hiện những kẻ khoe mẽ, khoác lác, có một nói mười, có mười nói trăm, thậm
chí không có nói cho thành có.
Nếu là những thường dân
nói khoác, kể những câu chuyện có tính chất phóng đại cho vui thì có thể vô hại
mà lại có ích là giải tỏa những căng thẳng trong cuộc sống như kiểu chuyện “bác
Ba Phi”, chuyện “Trạng Quỳnh”... Thế nhưng sự khoe mẽ, khoác lác của những người
làm quan xưa kia, những cán bộ ngày nay thì lại có hại vô cùng. Bởi sự khoác
lác ấy sẽ đánh lừa quần chúng, làm cho họ lẫn lộn thật giả, dẫn đến nhận thức lệch
lạc, tiêu cực. Tính khoe mẽ, khoác lác giống như một mầm bệnh, lâu ngày sẽ biến
các cán bộ thành kẻ ảo tưởng, huyễn hoặc về bản thân, nói nhiều, làm ít, nói
hay, làm dở, hoặc chỉ nói mà không làm, tệ hơn là làm thoái hóa, biến chất cán
bộ, đảng viên...
TỰ DỰA HƠI NÓI KHOÁC…
Tật khoe mẽ, khoác lác của
cán bộ không phải bỗng nhiên mà có. Nó được hình thành từ trong quá trình công
tác, từ quá trình tiếp xúc, quan hệ với các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Do yêu cầu
thực hiện nhiệm vụ, các cán bộ có thể nắm được một số thông tin. Nếu với những
người được rèn luyện nghiêm túc, có bản lĩnh vững vàng, nhận thức đúng đắn thì
họ sẽ biết cách xử lý, phổ biến các thông tin ấy một cách phù hợp với từng đối
tượng nên sẽ có tác dụng định hướng tư tưởng, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho
người tiếp nhận thông tin và làm cho nhiệm vụ, công việc được hoàn thành đúng ý
định. Còn đối với những người nhận thức non nớt, tính cách huênh hoang, bồng bột
thì lại coi những thông tin mình nắm được như một phương tiện để tự tâng bốc
mình, đưa mình trở thành nhân vật quan trọng trước những người được truyền đạt
thông tin.
Tôi từng chứng kiến có
anh cán bộ chỉ là một thư ký giúp việc cho một cán bộ cao cấp, nhưng lúc nào
anh cũng tỏ ra mình là người quan trọng, mình mới là người có thể... quyết định
việc này, việc kia. Khi có cơ quan đến đề xuất nội dung công việc với thủ trưởng
thì anh bẻ hành, bẻ tỏi, yêu cầu phải làm thế này, làm thế kia và thay đổi, đảo
lộn gần như hoàn toàn nội dung, kế hoạch của cơ quan đề xuất. Anh không biết,
hoặc cố tình không biết rằng chính những phần việc ấy đã được các chuyên gia và
cơ quan tham mưu xem xét, bàn thảo, cân nhắc kỹ càng trước khi đề xuất. Hành vi
ấy biểu hiện rằng, anh đã tự cho mình cái quyền đứng trên cơ quan tham mưu, vượt
qua giới hạn trách nhiệm và bổn phận của một thư ký giúp việc.
Lại cũng có người, do yêu
cầu công việc nên được tiếp xúc với thủ trưởng cấp trên thường xuyên. Lẽ ra anh
nên lấy đó làm cơ hội để học hỏi, tích lũy thêm kiến thức, nâng cao trình độ,
phương pháp, tác phong công tác. Nhưng tiếc thay, anh lại coi những cuộc tiếp
xúc đó là thế mạnh, là “năng lực” của mình trước đồng nghiệp. Anh hay kể rằng,
mình quen thủ trưởng này, biết thủ trưởng kia, có thể đến chỗ này, vào chỗ
khác, có thể giải quyết được nhiều công việc, thậm chí cả những việc đặc biệt
quan trọng như sắp xếp, điều động, bổ nhiệm cán bộ... Những người biết anh thì
chỉ cười mỉm, họ biết rằng đó chỉ là sự ảo tưởng, bởi thực chất, anh cũng chỉ
là một trợ lý bình thường như bao trợ lý khác trong cơ quan. Có chăng những người
khác họ không khoe mẽ, không ra vẻ như anh, mà họ biết trách nhiệm và biết giữ
đúng bổn phận của người cán bộ, không bao giờ vượt quá giới hạn đã được tổ chức
xác định. Nhưng có người không biết, lần đầu tiếp xúc với anh thì lại tưởng anh
có quyền năng thật, nên lân la nhờ vả, đề nghị hỗ trợ, giúp đỡ, thậm chí có cả
phần “chè nước” để đưa đẩy, nhằm bảo đảm cho sự việc hanh thông. Nhưng cuối
cùng, vì không có quyền năng thực sự nên sự việc không được tổ chức thông qua,
không được thủ trưởng chấp thuận. Khỏi phải nói sau sự việc như thế hình ảnh của
anh trong mắt đồng nghiệp như thế nào.
Có một điều rất đáng suy
ngẫm là hiện tượng khoe mẽ, huênh hoang của cán bộ, lúc sinh thời đã được Chủ tịch
Hồ Chí Minh nhắc nhiều lần trong các bài nói, bài viết. Điển hình là trong tác
phẩm "Sửa đổi lối làm việc". Trong tác phẩm này, Bác chỉ rõ bệnh kiêu
ngạo của người cán bộ, đảng viên, đó là: “Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt.
Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được
việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình...
Việc gì cũng muốn làm thầy người khác” . Đến tháng 11-1948, Chủ tịch Hồ Chí
Minh viết hẳn một bài báo tựa đề “Bệnh tự ái, tự kiêu” đăng trên Báo Sự thật số
102, ra ngày 15-11-1948. Trong bài báo, Bác chỉ rõ: “Tự kiêu tức là cho mình việc
gì cũng thạo, cũng làm được. Việc gì mình cũng giỏi hơn mọi người. Mình là thần
thánh, không cần học ai, hỏi ai” . Những năm gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
cũng thường nhắc đến hành vi khoe mẽ, tự kiêu, tự đại, nịnh trên, nạt dưới của
một số cán bộ. Thế nhưng những cảnh báo đó dường như chưa thấm, chưa ngấm vào một
bộ phận cán bộ, đảng viên. Vì thế trong thực tế vẫn còn nhiều cán bộ, đảng viên
mắc phải thói hư này. Đây là căn nguyên sinh ra bệnh cá nhân chủ nghĩa có hại
cho Đảng và có hại cho chính bản thân cán bộ, đảng viên.
ĐẾN Ỷ THẾ LÀM LIỀU
Từ sau Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo
xử lý nhiều vụ án quan trọng có liên quan đến các cán bộ, đảng viên. Đã cách chức,
giáng chức, giáng cấp, khai trừ, kỷ luật hàng nghìn cán bộ, đảng viên có vi phạm.
Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp của Đảng, sĩ quan cao cấp
trong LLVT đã bị truy tố do vi phạm pháp luật. Trong số các vụ án nói trên có
không ít vụ là do các đối tượng đã lợi dụng danh nghĩa, danh tiếng của cá nhân,
tổ chức để làm liều. Điển hình là các vụ án như vụ Phan Văn Sào Nam, lợi dụng,
cấu kết với một số cán bộ để tổ chức đánh bạc và rửa tiền; vụ Phan Văn Anh Vũ lợi
dụng chức vụ, quyền hạn, núp bóng cấp trên, lôi kéo, tha hóa cán bộ và đã phạm
nhiều tội nghiêm trọng như: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ; Cố
ý làm lộ bí mật Nhà nước; Lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản. Hoặc như phạm
nhân Trịnh Xuân Thanh (bị tòa án xét xử năm 2018), trước khi bị khởi tố đã có một
quá trình vi phạm pháp luật, tham nhũng, nhưng lợi dụng các mối quen biết, tiếp
tục “luồn lách” “chui sâu, leo cao” và được bổ nhiệm giữ chức Phó chủ tịch UBND
tỉnh Hậu Giang. Sở dĩ Thanh tham nhũng, vi phạm pháp luật trong thời gian dài
có một nguyên nhân rất quan trọng đó là dựa bóng cấp trên, dựa vào sự bao che của
cấp trên để phóng tay làm liều, biết sai mà vẫn làm. Việc Thanh bị báo chí
phanh phui từ hành vi sử dụng chiếc xe ô tô tư nhân đắt tiền, nhưng lại gắn biển
xe công vụ thực chất chỉ là giọt nước tràn ly và cũng là xuất phát từ thói
huênh hoang, khoe mẽ, "coi trời bằng vung" của một cán bộ đã nhiễm
thói hư, tật xấu từ lâu...
Trên đây chỉ là một số vụ
án lớn, điển hình về sự tha hóa của cán bộ có nguyên nhân khởi nguồn từ thói dựa
hơi, dựa tiếng cấp trên, thậm chí tha hóa cán bộ cấp trên để tạo tấm bình phong
cho mình làm liều, làm bậy, vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Trong thực tế cuộc
sống, cũng còn nhiều cán bộ, đảng viên mới có một chút chức quyền trong tay
nhưng đã bộc lộ thói huênh hoang, làm liều, như: Dọa nạt, hành hung cán bộ,
nhân viên khi họ đang thi hành công vụ; mạt sát, coi thường, sách nhiễu nhân
dân khi người dân có việc cần đến cơ quan công quyền; nịnh trên, nạt dưới, vi
phạm dân chủ ở cơ quan, đơn vị... Thậm chí có cả những người có học hàm, học vị,
giữ chức vụ quan trọng ở một nhà trường, nhưng lại nói năng lỗ mãng, hống hách,
ứng xử thiếu văn hóa với khách đến tìm hiểu về cơ quan, đơn vị mình. Những hiện
tượng này đang xảy ra khá phổ biến và đã được các cơ quan báo chí đăng tải, phê
phán, nhưng xem ra việc khắc phục, sửa chữa chuyển biến tiến bộ còn rất chậm. Mới
đây, phát biểu trong Hội nghị Văn hóa toàn quốc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
đã chỉ ra một số thói hư, tật xấu, thiếu văn hóa... của một số cán bộ, đảng
viên và thói học đòi, tiếp thu thiếu chọn lọc văn hóa nước ngoài. Sự ý nhị của
Tổng Bí thư khi đọc bài thơ "Chân quê" của Nguyễn Bính, trong đó nhấn
mạnh mấy câu cuối của bài thơ này: “Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với
chúng mình chân quê/ Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”
là lời nhắc nhở sâu sắc cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc rèn luyện, tu
dưỡng phẩm chất đạo đức, xây dựng và duy trì lối sống trong sáng, lành mạnh, có
văn hóa...
Sửa những thói hư, tật xấu,
thói khoe mẽ, huênh hoang của cán bộ, đảng viên là việc cấp thiết và phải tiến
hành thường xuyên, liên tục. Bởi trong một đảng cầm quyền thì mỗi đảng viên phải
là một hạt nhân đoàn kết, phải có phẩm chất đạo đức tốt, có liêm sỉ, có cách ứng
xử văn hóa trước quần chúng nhân dân, như thế mới tập hợp, thu hút được quần
chúng, mới giúp Đảng hoàn thành trọng trách lãnh đạo xã hội. Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa XIII vừa ban hành Quy định số 37-QĐ/TW quy định về những
điều đảng viên không được làm, mục đích cũng là để làm cho đội ngũ cán bộ, đảng
viên của Đảng ngày càng thấm nhuần đạo đức cách mạng, tự rèn luyện, tu dưỡng để
xứng đáng với vai trò tiền phong. Vì vậy tinh thần, nội dung của Quy định
37-QĐ/TW cần phải nhanh chóng được lan tỏa tới các chi bộ và từng đảng viên. Đảng
viên và tổ chức đảng các cấp trong sinh hoạt cần nêu cao tính tự phê bình và
phê bình, nghiêm túc quán triệt, học tập thực hiện các điều trong quy định và
phải kiên quyết xử lý các đảng viên vi phạm quy định. Phải tăng cường công tác
kiểm tra Đảng, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các đảng viên khi có biểu hiện, dấu
hiệu vi phạm. Thời gian qua, chính vì chưa chú trọng nâng cao chất lượng sinh
hoạt chi bộ, hoặc khi đấu tranh, phê bình còn e dè, nể nang, nên thói chuyên
quyền, độc đoán, huênh hoang có cơ hội tồn tại và phát tác trong một số cán bộ,
đảng viên. Còn đối với mỗi cán bộ, đảng viên muốn chữa được bệnh huênh hoang,
khoe mẽ thì cần luôn ghi nhớ và học cách khiêm tốn, cần biết nói những gì, nói ở
đâu và nói vào lúc nào, cần phải biết lắng nghe phê bình, tiếp thu phê bình một
cách thành thật, rồi tích cực sửa chữa sai lầm theo đúng tinh thần của người cộng
sản. Người xưa đã nói đại ý: Khiêm tốn bao nhiêu cũng chưa đủ, tự kiêu một chút
hóa ra thừa. Câu nói này có lẽ đến nay vẫn đúng và vẫn còn giá trị.
TRẦN VŨ
Thứ Tư, 10 tháng 11, 2021
TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH - “VŨ KHÍ” SẮC BÉN
Nguyên tắc tự phê bình và phê bình (TPB&PB) được
đưa vào Điều lệ Đảng từ Đại hội II của Đảng năm 1951.
Từ đó đến nay, TPB&PB trở thành quy luật
tồn tại và phát triển của Đảng. Những người hoài nghi sức mạnh nội sinh của Đảng
cho rằng, nguyên tắc này chẳng khác nào “vạch áo cho người xem lưng”. Nhưng thực
tiễn đã chứng minh, nguyên tắc này là “vũ khí” sắc bén để sửa chữa những sai lầm,
khuyết điểm của đảng viên và tổ chức đảng...
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Một Đảng mà giấu giếm
khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của
mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh
ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là
một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.
Hiếm có đảng cầm quyền nào mà sinh hoạt TPB&PB lại
trở thành công việc thường xuyên, trở thành nếp sinh hoạt chính trị thấm đẫm
giá trị nhân văn như Đảng Cộng sản Việt Nam. Mặc dù, đến Đại hội II (1951) Đảng
ta mới đưa TPB&PB vào Điều lệ Đảng, nhưng từ khi mới ra đời
(3-2-1930) Đảng ta đã mang trong mình tinh thần “tự chỉ trích” rất nghiêm túc.
Thực tiễn hơn 91 năm qua cho thấy, mỗi khi phát hiện có sai lầm, Đảng đều công
khai thừa nhận và tìm ra biện pháp sửa chữa. Trong cuộc Cải cách ruộng đất và
chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc (1953-1956), khi phát hiện sai lầm, Trung ương Đảng
đã họp tự kiểm điểm suốt một tháng (từ ngày 25-8 đến 24-9-1956). Trung ương Đảng
đã thẳng thắn thừa nhận: “Đó là những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài về
nhiều mặt, những sai lầm về những vấn đề nguyên tắc, trái với chính sách của Đảng,
trái với nguyên tắc và điều lệ của một đảng theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, trái với
chế độ pháp luật của nhà nước dân chủ nhân dân”. Các đồng chí Ủy viên Bộ
Chính trị phụ trách công tác này đều tự phê bình một cách sâu sắc và tự nhận
hình thức kỷ luật rất nghiêm khắc. Tổng Bí thư Trường Chinh xin từ chức. Các đồng
chí Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt xin rút khỏi Bộ Chính trị. Sau khi hội nghị kết
thúc, Đảng tổ chức cuộc mít tinh lớn tại Nhà hát Lớn, công khai thừa nhận sai lầm
trước nhân dân. Sau hơn 10 năm đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ
nghĩa xã hội nhưng rơi vào khủng hoảng kinh tế-xã hội, Đảng ta một lần nữa tiến
hành đợt TPB&PB nghiêm túc và sâu sắc. Với tinh thần nhìn thẳng
vào sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội VI của Đảng năm 1986 dũng cảm nhận thấy
“những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về
chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”. Đảng tự thấy mình mắc “bệnh chủ quan,
duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng
chủ quan, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế-xã hội, không chấp
hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng”. Sau Đại hội VI, trên báo
Nhân Dân xuất hiện chuyên mục “Những việc cần làm ngay” của Tổng Bí thư Nguyễn
Văn Linh với bút danh “N.V.L”, tiếp nối tinh thần của đại hội, thẳng thắn chỉ
ra những khuyết điểm, yếu kém cần sửa ngay, tạo ra không khí sửa sai rất sôi nổi,
thực chất trong toàn xã hội. Chính tinh thần ấy đã cổ vũ, động viên đất nước,
nhân dân ta vượt qua khó khăn, thử thách, từng bước đưa công cuộc đổi mới do Đảng
ta khởi xướng và lãnh đạo đạt được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Mặc dù đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch
sử nhưng kiểm điểm công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Nghị quyết Đại hội XIII của
Đảng tiếp tục chỉ rõ: “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức;
tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận
cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với
nhiệm vụ được giao”. Đấu tranh với những hiện tượng vi phạm nguyên tắc TPB&PB trở
thành một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện
nay.
Chỉ tính riêng 10 năm gần đây, Trung ương Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, quyết định quan trọng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện một cách ráo riết, quyết liệt, có hiệu quả. Đặc biệt, sau khi Hội nghị Trung ương 4, khóa XI ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; ngày 13-8-2012, Bộ Chính trị đã tổ chức Hội nghị toàn quốc để hướng dẫn việc tiến hành kiểm điểm TPB&PB theo tinh thần nghị quyết này. Ngày 4-10-2021 vừa qua, khai mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: "Trong thời gian qua, chúng ta đã đạt được những kết quả bước đầu rất quan trọng, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, được toàn Đảng, toàn dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Tuy nhiên, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vẫn chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có mặt còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn, có thể gây ra những hậu quả khôn lường. Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những nhiệm vụ cơ bản để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện; trong đó khẳng định tiếp tục kiên trì, kiên quyết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, Hội nghị Trung ương 4 lần này sẽ tiếp tục thảo luận, tạo sự thống nhất cao về các chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhằm “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.
Thực trạng đó cho thấy, nguyên tắc TPB&PB vẫn rất cần được bảo vệ trong thực tiễn, để "vũ khí" sắc bén của Đảng phát huy tác dụng trong sửa chữa những khuyết điểm, sai lầm, vốn là một vấn đề không thể tránh đối với một đảng cầm quyền. Hiện nay, một bộ phận không nhỏ đảng viên vẫn còn mang tâm lý "đấu tranh, tránh đâu", "dễ mình, dễ ta", "im lặng là vàng", "trong nhà đóng cửa bảo nhau", không muốn "vạch áo cho người xem lưng", "rút dây động rừng"... Quy chế, quy trình TPB&PB trong Đảng cũng chưa thực sự hoàn thiện, chưa có cơ chế đủ mạnh bảo vệ người "dám phê bình", xử lý những người trung bình chủ nghĩa, "nể và né"... nên các biểu hiện vi phạm nguyên tắc TPB&PB vẫn còn rất nhiều.
Theo PGS, TS Nguyễn Văn Giang (nguyên Phó viện trưởng
Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh), nguyên tắc TPB&PB đang
xảy ra các biến tướng cần đấu tranh loại bỏ sau đây:
Phê bình vờ: Chỉ nêu những khuyết điểm nhỏ nhặt, như “đồng
chí đôi khi còn đi làm muộn”; “tác phong chưa thật nhanh nhẹn”, "văn hóa,
văn nghệ còn trầm"... Đây là kiểu phê bình chiếu lệ, phê làm phép cho có,
làm qua loa đại khái, phê theo kiểu “bắn súng lên trời”, “phê chẳng chết ai”, để
mọi người thấy mình cũng tham gia phê bình.
Phê bình vống: Khuyết điểm có ít xuýt ra nhiều; việc bé
xé ra to, để thỏa mãn sự bực tức của mình, để “cho bõ ghét”, “cho nó chết”...
Phê bình dứ: Đây là loại lợi dụng phê bình rất tinh vi.
Người phê bình nêu ra một số khuyết điểm nhưng ngầm tỏ ra còn biết người được
phê bình có khuyết điểm, sai phạm lớn hơn, anh liệu mà cư xử với tôi. Đây là
cách răn đe, hăm dọa người được phê bình.
Phê bình nịnh: Phê bình nhưng để khen nhau và tâng bốc
nhau: “Điểm yếu của đồng chí là quá ham mê công việc cơ quan, không quan tâm đến
bản thân và gia đình”, “đồng chí không chú ý giữ gìn sức khỏe”... Đây là thói
cơ hội, xu nịnh, vuốt ve nhau, cố tình phóng đại những cái tốt, cái hay về đồng
chí, đồng nghiệp nhằm củng cố “cánh hẩu” của mình. Đó là loại phê bình không
nghiêm túc.
Phê bình đập: Đây là loại phê bình chụp mũ, kết tội
nhau, hạ bệ nhau. Để “đập” nhau, họ tích lũy khuyết điểm, biến quá trình phê
bình thành cơ hội để cường điệu hóa khuyết điểm nhằm bôi nhọ, vu khống để hạ bệ
đồng nghiệp hoặc dọn đường cho nhau, giành lợi thế chính trị; bao vây, cô lập,
vô hiệu hóa những nhân tố tốt; lấy cớ tự phê bình để triệt hạ những người không
ưa, “trả thù vặt” theo kiểu “gắp lửa bỏ tay người”... Nguy hiểm hơn, họ biến thủ
đoạn này thành đòn lôi kéo, đánh hội đồng rất tinh vi. Đây được coi là thủ đoạn
phi tính đảng bậc nhất của “đảng viên”, là thủ đoạn của người đạo đức giả.
Đảng ta đang triển khai các nhiệm vụ, giải pháp xây dựng,
chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Đại hội XIII, coi trọng tính chiến đấu trong
TPB&PB, để “vũ khí” sắc bén này góp phần xứng đáng vào công tác xây dựng Đảng
trong sạch, vững mạnh. Từng cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường giáo dục
cho đội ngũ đảng viên nhận thức sâu sắc về vai trò và giá trị của TPB&PB trong
Đảng; không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung, phương thức tiến
hành TPB&PB ở cấp mình. Từng đảng viên cần khắc phục tâm lý ngại
va chạm, tích cực TPB&PB "như rửa mặt hằng ngày" trong
sinh hoạt Đảng. Từng cán bộ, nhất là người đứng đầu, cần chủ động, tự giác nêu
gương trong thực hành TPB&PB; có cơ chế, biện pháp khuyến khích, bảo vệ
cấp dưới phê bình cấp trên; kiên quyết chống các biến tướng của TPB&PB...
Để sinh hoạt TPB&PB giữ vững giá trị là một nét đẹp của văn hóa Đảng, thực sự là quy luật phát triển của Đảng; chúng ta cần ghi nhớ lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Mục đích phê bình cốt để... đoàn kết và thống nhất nội bộ".
Thứ Ba, 26 tháng 10, 2021
“VIỆC CẦN PHẢI LÀM TRƯỚC TIÊN LÀ CHỈNH ĐỐN LẠI ĐẢNG”
Từ rất sớm, từ tiên liệu về sự vận động của Đảng trong
quá trình phát triển và sự biến động của tình hình, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, một
dân tộc, một Đảng và mỗi con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn,
song không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ngợi ca
nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống. Vì vậy, xây dựng và chỉnh đốn Đảng là tất yếu khách quan, là nhiệm vụ
vừa cấp bách vừa thường xuyên của Đảng cầm quyền, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của Đảng. Qua đó, góp phần phòng và chống bệnh choáng ngợp, tự
mãn, quan liêu, ngày càng rời xa nhân dân của người đang nắm giữ vai trò lãnh đạo,
quản lý trong Đảng và các cơ quan công quyền - những người mà theo Hồ Chí Minh,
“trong lúc tranh đấu thì hăng hái, trung thành, nhưng đến khi có ít nhiều quyền
hạn trong tay thì đâm ra kiêu ngạo, xa xỉ, phạm vào tham ô, lãng phí, quan
liêu, không tự giác mà biến thành người có tội với cách mạng”…
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng chỉ có thể chắc chắn,
vững mạnh, trở thành đội tiên phong của giai cấp và dân tộc, chỉ giành và giữ
được vai trò lãnh đạo cách mạng khi thường xuyên tiến hành xây dựng và chỉnh đốn
Đảng. Để xứng đáng là vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung
thành của nhân dân, Đảng phải tự xây dựng thành “một đảng to lớn, mạnh mẽ, chắc
chắn, trong sạch, cách mạng triệt để” và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải “suốt đời
làm người con trung thành của Đảng, người đầy tớ tận tuỵ của nhân dân”. Đó là
trách nhiệm kép, vừa vinh dự vừa khó khăn mà muốn hoàn thành, Đảng và đội ngũ
cán bộ, đảng viên của Đảng phải vừa ra sức nâng cao năng lực trí tuệ ngang tầm
nhiệm vụ lịch sử vừa phải thường xuyên củng cố khối đoàn kết, thống nhất;
nghiêm túc thực hiện chế độ tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, trau dồi
đạo đức cách mạng và gắn bó mật thiết với nhân dân, để nhân nguồn sức mạnh của
Đảng.
Vì thế, từ khi chuẩn bị đến sáng lập và rèn luyện Đảng
Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã luôn chú trọng xây dựng và chỉnh đốn Đảng để
Đảng Cộng sản Việt Nam vững mạnh, trở thành Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt
Nam; không ngừng nâng cao bản lĩnh và trí tuệ của Đảng, nâng cao sức chiến đấu
của Đảng trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc xây dựng một chính đảng Mácxit chân
chính; đồng thời, coi đó là một quy luật tất yếu, là sự vận động và phát triển
của Đảng trong tiến trình phát triển của cách mạng do Đảng lãnh đạo. Và không
phải ngẫu nhiên, trong Di chúc, Hồ Chí Minh lại căn dặn, để Đảng trong sạch,
chân chính, vững mạnh, “các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ
gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Đó là
vì:
Một là, đoàn kết được coi là nguyên tắc cơ bản trong
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là bảo đảm đầu tiên và thường xuyên cho sự vững
mạnh và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng; tạo nên sức mạnh thống nhất
trong ý chí và hành động để chiến thắng kẻ thù xâm lược, xây dựng, bảo vệ và
phát triển đất nước. Vì đoàn kết là “một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng
và của dân ta”, nên mọi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên củng cố khối đoàn kết,
thống nhất trong Đảng trên cơ sở đường lối, chủ trương và những nguyên tắc sinh
hoạt Đảng; được thể hiện trong nhận thức và hành động, trong mối quan hệ giữa cấp
trên và cấp dưới, nhất quán giữa lời nói và việc làm.
Hai là, “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi",
vì dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là mục tiêu và động lực của
sự tiến bộ và phát triển xã hội. Dân chủ trong Đảng là phát huy quyền làm chủ của
đảng viên trong tất cả các hoạt động của Đảng, để mọi đảng viên được bày tỏ hết
ý kiến của mình, vì thế, mỗi đảng viên ở bất cứ địa vị nào cũng phải gương mẫu
thực hành dân chủ. Song dân chủ phải đi đôi với tập trung, với kỷ luật của Đảng
và kỷ luật chính là phương tiện để bảo vệ dân chủ, bảo vệ lợi ích chính đáng của
nhân dân. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ là dân là chủ và dân làm chủ; thực
hành dân chủ có tác dụng giải phóng, phát huy tiềm năng, sức sáng tạo của nhân
dân; do đó, cán bộ, đảng viên phải lãnh đạo nhân dân một cách dân chủ, phải
phát huy vai trò của nhân dân trong mọi lĩnh vực và đó là "cái chìa khoá vạn
năng để giải quyết mọi khó khăn". Tuy nhiên, thực hành dân chủ, phát huy
quyền làm chủ của đảng viên, của nhân dân phải dưới sự lãnh đạo của Đảng, để bảo
đảm cho quá trình thực hiện dân chủ được đúng hướng; để vừa loại bỏ được tình
trạng độc đoán, chuyên quyền trong lãnh đạo vừa tránh rơi vào hiện tượng vì
"sợ" mất dân chủ mà theo đuôi quần chúng, hoặc dân chủ quá trớn.
Ba là, thường xuyên, nghiêm chỉnh "tự phê
bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết, thống
nhất của Đảng". Nguyên tắc quan trọng này phải được thực thi thường xuyên,
liên tục, nghiêm túc, thực chất để phát huy vai trò, khả năng sáng tạo, trách
nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong công tác xây dựng,
chỉnh đốn Đảng. Theo đó, để bảo đảm dân chủ, công khai, bình đẳng trong sinh hoạt
Đảng, trong tự phê bình và phê bình: một mặt, cấp trên và cán bộ lãnh đạo phải
tự phê bình nghiêm túc, phải chân thành tiếp thu ý kiến phê bình của đồng chí
mình và cấp dưới; mặt khác, phải động viên cấp dưới và quần chúng phê bình tổ
chức đảng và đảng viên chân thành, triệt để trên "tình đồng chí thương yêu
lẫn nhau".
Bốn là, thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng,
thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng
ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức
cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để Đảng thật trong sạch,
xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân". Khẳng định vai trò nền tảng, ý nghĩa quyết định của đạo đức cách mạng, coi
đạo đức là cái gốc của người cách mạng, là cơ sở nền tảng của một đảng cầm quyền
"là đạo đức, là văn minh", Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc
giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Trong tư tưởng của
Người, đạo đức cách mạng là “quyết tâm suốt đời” đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng,
“ra sức làm việc” cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng; thực hiện tốt đường lối,
chính sách của Đảng, đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lên trên, lên trước lợi
ích cá nhân mình; “hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”, vì Đảng, vì dân mà đấu
tranh quên mình, gương mẫu trong mọi công việc; ra sức học tập chủ nghĩa Mác -
Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến
công tác để cùng tiến bộ... Với Hồ Chí Minh, làm cách mạng là để cải tạo xã hội
cũ thành xã hội mới, đó là một sự nghiệp rất vẻ vang song vô cùng khó khăn,
gian khổ, do vậy “người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới
hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải
"thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô
tư" theo lời Người dặn chính là để rèn mình, chống thói hư tật xấu trong
mình như tham ô, lãng phí, quan liêu, tham nhũng, cá nhân chủ nghĩa,v.v.. để xứng
đáng với vai trò tiền phong.
Thực hiện được 4 điều Hồ Chí Minh trăn trở, căn dặn
trong Di chúc chính là góp phần “giữ gìn Đảng ta thật trong sạch”, “xứng
đáng là người lãnh đạo”, “là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”; để mỗi
cán bộ, đảng viên rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định lý tưởng
cách mạng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mẫu mực về tấm gương đạo đức
cách mạng và tầm cao năng lực trí tuệ nhằm quy tụ, lãnh đạo nhân dân tiến hành
thắng lợi nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước bền vững.
Không chỉ chú trọng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; thường xuyên yêu cầu cán bộ, đảng viên phải rèn luyện đạo đức cách mạng, gắn bó mật thiết với nhân dân,v.v.. Hồ Chí Minh còn luôn là một tấm gương mẫu mẫu mực về rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, luôn thống nhất giữa nói và làm. Một Hồ Chí Minh hết lòng yêu thương nhân dân, luôn vui niềm vui của đồng bào, đồng chí, buồn nỗi buồn của áp bức, bất công; chỉ vui trọn vẹn khi không còn chiến tuyến, khi không còn chiến tranh đã luôn làm ấm lòng những người xung quanh mình. Hồ Chí Minh - con người và nhân cách vĩ đại đã từng được suy tôn là “một hiền nhân” là người đã thực hiện trọn vẹn những điều vốn là khát vọng lâu đời được nêu trong sách Luận ngữ: “Đem lại sự nghỉ ngơi cho người già, đem lại lòng tin cậy cho bầu bạn, đem lại tình thương yêu cho trẻ nhỏ” - không chỉ thuộc về hiện tại mà Người còn thuộc về tương lai cả trong ý nghĩ, tầm nhìn chiến lược và những quyết sách, hành động.
Thứ Hai, 19 tháng 10, 2020
MỘT BIỂU HIỆN SUY THOÁI
Trong Di chúc trước
lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Trong Đảng thực hành dân chủ
rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất
để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng
chí thương yêu lẫn nhau”.
Thật không thể chấp nhận những người đứng trong tổ chức,
trước khuyết điểm, sai phạm của người khác chẳng những không phê bình chân
thành và đấu tranh thẳng thắn, làm rõ vi phạm, khuyết điểm của đồng chí mình
theo đúng kỷ luật, pháp luật, thông qua các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể
mà lại “ném đá giấu tay”, tiếp tay cho “truyền thông đen”, thậm chí cho các thế
lực thù địch.
Đây cũng chính là một trong những biểu hiện suy thoái về tư
tưởng chính trị mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng ta đã chỉ ra:
“... Lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau, hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ
trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng”.
Quy định số 102-QĐ/TW ngày 15-11-2017 của Bộ Chính trị về
“Xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm” đã nêu cụ thể một số hành vi vi phạm kỷ luật
liên quan đến mạng xã hội. Đó là: “Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông
tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò
lãnh đạo của Đảng”.
Chúng ta từng chứng kiến những bài học đau xót khi những cán
bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, “chơi dao đứt tay” và phải trả giá rất đắt
vì tiếp tay cho “truyền thông đen”. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4,
khóa XII vào năm 2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (nay là Tổng Bí thư, Chủ
tịch nước) đã nhắc đến trường hợp Trịnh Xuân Thanh và cảnh báo: “Từ suy thoái
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến",
"tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm
khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch,
phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.
Theo kết luận từ cơ quan chức năng, từ chỗ coi thường kỷ luật của Đảng, khi bị xử lý, Trịnh Xuân Thanh viết đơn xin ra khỏi Đảng, công khai tuyên bố không còn tin ở lãnh đạo Đảng, Nhà nước, trốn đi nước ngoài và tiếp tay cho các đối tượng phản động để chúng xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước. Đây là một trường hợp vi phạm điển hình, một bài học đắt giá mà mỗi tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên cần suy ngẫm.