Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY

Những thành tựu đạt được sau 30 năm đổi mới ở Việt Nam là không thể phủ nhận, trong đó, GCCN Việt Nam phát triển nhanh về số lượng và chất lượng, thể hiện vai trò to lớn đối với sự nghiệp đổi mới. Vậy mà, trên một số trang mạng đã xuất hiện những quan điểm sai trái, xuyên tạc hòng phủ nhận địa vị chính trị, vai trò của GCCN Việt Nam.
Các thế lực thù địch cho rằng: Ở Việt Nam, công nghiệp chưa phát triển, GCCN số lượng ít, chất lượng hạn chế, không phải là con đỏ của nền công nghiệp hiện đại. Mặt khác, trong điều kiện hiện nay cơ cấu GCCN Việt Nam rất đa dạng, không thuần nhất, có ở mọi khu vực kinh tế: Nhà nước, tư nhân, liên doanh với nước ngoài và có sự phân hoá... nên không đủ khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng.
Đây là âm mưu, thủ đoạn không mới của các thế lực thù địch; nhưng những luận điệu mà chúng nêu ra hòng bóc méo bản chất vấn đề, xáo trộn nhận thức trong các tầng lớp nhân dân, lung lạc ý chí chính trị của cán bộ, đảng viên.
Trong điều kiện chủ nghĩa xã hội thế giới đang trong tình trạng khủng hoảng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mặc dù đạt được nhiều thành tựu to lớn, song còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhất là trong điều kiện khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, tăng trưởng kinh tế của nước ta trong những năm qua không cao. Thêm vào đó là tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong bộ máy đảng và Nhà nước rất phức tạp, nghiêm trọng. Các tổ chức công đoàn của công nhân trong các công ty liên doanh với nước ngoài, 100% vốn nước ngoài chưa phát huy được vai trò của mình trong việc tập hợp, tổ chức, giáo dục nâng cao nhận thức, trình độ giác ngộ cho công nhân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân.
Các thế lực thù địch tiếp tục chống phá quyếl liệt hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội với nhiều âm mưu, thủ đoạn mới, tác động đến niềm tin của quần chúng nhân dân v vai trò lãnh đạo của GCCN. Ngoài ra, chúng còn dùng những triết lý phản động đphủ nhận sứ mệnh lịch sử của GCCN, ra sức chia rẽ trong hàng ngũ công nhản bằng các tư tưởng cơ hội; đua ra luận điệu nhiều giai cấp lãnh đạo xã hội mới tránh được độc tài hoặc trong thời đại khoa học - công nghệ thì quyền lãnh đạo thuộc về ầng lớp thức.
Chúng ta khỏng phủ nhận những hạn chế của GCCN Việt Nam (như số lượng ít, chưa được rèn luyện nhiều trong đại công nghiệp, trình độ học vấn, tay nghề còn thấp...) mà nguồn gốc sâu xa là do trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong thời kỳ quá độ còn thấp. Nhưng, điều đó không đủ căn cứ để phủ nhân vai trò sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam. Việt Nam, GCCN vẫn là giai cấp duy nhất có vai trò lãnh đạo cách mạng thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam, bởi những lý do sau:
Một , GCCN Việt Nam sinh ra trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm. Họ không chịu cảnh áp bức, bóc lột, luôn có sự gắn kết lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc làm cho nghị lực và tính triệt để cách mạng nhân lên gấp bội.
Hai là, GCCN Việt Nam ra đời và từng bước trưởng thành trong không khí sục sôi của hàng loạt các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp... thông qua các phong trào đó có tác dụng đối với việc giáo dục, nuôi dưỡng tinh thần yêu nước, ý chí quyết tâm chống thực dân Pháp của GCCN và nhân dân ta.
Ba là, ảnh hưởng của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga đã cổ vũ GCCN Việt Nam đứng lên gánh vác sứ mệnh lãnh đạo cách mạng nước ta đấu tranh lật đổ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới.
Bấn là, GCCN Việt Nam đa số có nguồn gốc xuất thân từ nông dân, đã có mối liên hệ tự nhiên, gắn bó máu thịt với nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác; sớm có một Đảng cách mạng chân chính lãnh đạo, có đường lối đúng đắn... đó là điều kiện thuận lợi cho sự lãnh đạo của GCCN với giai cấp nông dân và toàn dân tộc.

Hiện nay, cùng với sự phát triển của lịch sử, GCCN Việt Nam có những chuyển biến quan trọng tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên, đã hình thành đông đảo bộ phận công nhân trí thức, thông qua đội tiền phong của mình, GCCN đang phát huy tốt vai trò là giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phấn đấu cho mục tiêu: "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tất cả những yếu tố ấy khẳng định GCCN Việt Nam là lực lượng duy nhất có khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi tới mục tiêu cuối cùng.

PHẢI CHĂNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM ĐANG ĐỒNG HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ NHƯ QUAN NIỆM CỦA MỘT SỐ HỌC GIẢ NƯỚC NGOÀI?

Là một quốc gia đa dân tộc, có thể thấy, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta đã và đang thu hút sự quan tâm đáng kể của nhiều học giả nước ngoài. Tuy nhiên, khác với các học giả Việt Nam thường nhấn mạnh đến tầm quan trọng và hiệu quả của chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước nhằm thay đổi và nâng cao đời sống các tộc người thiểu số ở miền núi, phần lớn các công trình của học giả nước ngoài có xu hướng xem xét các chính sách phát triển vùng núi của nhà nước Việt Nam như một nỗ lực đồng hóa văn hóa các dân tộc thiểu số. Họ thường lờ đi sự khác biệt về bản chất chức năng tốt đẹp của nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam với các kiểu nhà nước của xã hội có giai cấp đối kháng trong giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước và tộc người. Tiêu biểu cho quan điểm này là ba nhà nhân học được biết đến nhiều ở Việt Nam, đó là Charles Keyes, Oscar Salemink và Pamela McElwee.
Charles Keyes, một nhà nhân học người Mỹ cho rằng, các tộc người thiểu số, dù sinh sống dưới bất kỳ thể chế nhà nước nào, nền văn hóa và bản sắc riêng biệt của họ cũng đều bị xem là đối tượng mà nhà nước thấy cần phải xóa bỏ. Theo ông ta, mặc dù Việt Nam có thể chế và hệ tư tưởng khác phần còn lại của Đông Nam Á, nhưng chính sách dân tộc thì không có gì khác biệt. Quan điểm của C.Keyes được O.Salemink tiếp nối khi xem xét việc thực hiện chính sách định canh định cư của Việt Nam ở Tây Nguyên. Theo O.Salemink, chính sách đó đã cho phép chính phủ can thiệp vào lối sống các dân tộc Tây Nguyên, việc “cải thiện” đời sống chỉ là những kỹ thuật nhằm đưa người dân vào khuôn khổ. Với cái nhìn đầy thiên kiến, Pamela McElwee cũng cho rằng, chính sách định canh định cư ở vùng núi Việt Nam được xây dựng trên quan điểm định kiến của nhà nước đối với các dân tộc thiểu số, với mục đích can thiệp vào lối sống các dân tộc. Họ thường phê phán một cách phiến diện về chính sách dân tộc ở Việt Nam theo kiểu quy chụp dựa trên một số hạn chế của việc thực hiện chính sách dân tộc. Những quan điểm nói trên thường mang các thiên kiến chủ quan và định kiến chính trị.
Theo nguyên tắc tổ chức nhà nước của chủ nghĩa Mác - Lênin, một trong những chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa là bảo đảm giải quyết hài hòa lợi ích các dân tộc và mối quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc trên nguyên tắc: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết; liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại”[1]. Bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa có sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc. Tính dân tộc của nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thể hiện trước hết ở việc Nhà nước ta ra đời từ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong các thời kỳ cách mạng, Nhà nước luôn tổ chức nhân dân các dân tộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc, gắn lợi ích giai cấp công nhân với lợi ích dân tộc. Trong Hiến pháp và thực tiễn xã hội, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Nhà nước thực hiện chính sách dân tộc nhất quán là bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lê nin và đặc điểm dân tộc nước ta, Đảng và Nhà nước ta khẳng định: "Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, tây duyên hải miền Trung. Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc"[2]. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước là một bộ phận của chính sách phát triển quốc gia - dân tộc, nhằm phát triển dân tộc, xây dựng và củng cố vững chắc quan hệ dân tộc - quốc gia ở Việt Nam.
Qua các thời kỳ cách mạng, đặc biệt là thời kỳ đổi mới, chính sách dân tộc của Nhà nước Việt Nam đã tạo ra cuộc cách mạng phát triển kinh tế - xã hội ở vùng miền núi và dân tộc thiểu số. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa IX của Đảng đã nêu rõ những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực trong thực hiện chính sách ở nước ta. Mấy thập kỷ qua, chính sách dân tộc đã và đang thay đổi bộ mặt vùng dân tộc và miền núi nước ta từ đời sống chính trị, kinh tế, xã hội đến  đời sống vật chất, tinh thần, phong tục tập quán... Nhà nước đã thực hiện chính sách đồng bộ và toàn diện về kinh tế, văn hoá, xã hội tại địa bàn dân tộc thiểu số để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào. Đảng và Nhà nước coi đây là một cuộc vận động cách mạng sâu sắc về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Chỉ tính riêng hệ thống chính sách dân tộc ở nước ta giai đoạn 2011-2015 đã bao gồm 154 chính sách với ngân sách nhà nước đã đầu tư 135.800 tỷ đồng. Chương trình 135 giai đoạn III thực hiện tại 2.331 xã, ở 415 huyện, đã đầu tư gần 20.000 công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu. Tốc độ tăng trưởng bình quân của các tỉnh miền núi và dân tộc thiểu số đạt từ 8% - 10%, cao hơn nhiều mức bình quân chung cả nước, tỷ lệ hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số mỗi năm giảm trên 2% ; 100% số xã có trạm y tế và trường tiểu học; 97,9% số xã có đường ô tô đến trung tâm xã; 96,4% có điện… (Báo Nhân Dân điện tử, thứ Tư, 02/03/2016, 02:55:07).
Rõ ràng, cách nhìn có tính quy kết của các học giả nước ngoài về chính sách dân tộc ở nước ta đã bị bác bỏ cả trên phương diện lý luận và thực tiễn của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.



8. Lê nin, Toàn tập, tập 25, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1980, tr. 375.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng TƯ Đảng xuất bản, Hà Nội, tr. 164-165.

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2016

NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH BẢO VỆ ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG HIỆN NAY

         Thời gian gần đây, các thế lực thù địch đã và đang tăng cường chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, trá hình. Cùng với các hoạt động phá hoại vào nền tảng tư tưởng, Cương lĩnh, đường lối lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước trên các phương diện khác, chúng ra sức sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại, đặc biệt là Internet, các blog để chuyển tải thông tin, quan điểm sai trái, thù địch và móc nối, tổ chức lực lượng chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là vấn đề rất quan trọng liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng           Thực tiễn lịch sử cách mạng nước ta đã khẳng định bản lĩnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện ở đường lối, chính sách, ở chiến lược và sách lược đúng đắn là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.        Việc một số người dưới danh nghĩa đảng viên “trung thành” viết và phát tán trên mạng internet “Thư ngỏ” với những hình thức khác nhau, “kiến nghị” Đảng ta thay đổi Cương lĩnh, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước ta, đòi Đảng từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ, đòi thực hiện đa nguyên, đa đảng… Thực chất, “những kiến nghị” đó không có gì mới và xa lạ với thực tiễn của công cuộc đổi mới đất nước suốt 30 năm qua của nhân dân ta. Nếu ai đó cho rằng, những tồn tại nhiều vấn đề kinh tế, xã hội, sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức và lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên các cấp dẫn đến làm suy giảm lòng tin của nhân dân… để từ đó xuyên tạc, quy kết nguyên nhân do thể chế chính trị của nước ta hiện nay là “độc đảng toàn trị kìm hãm tự do, dân chủ, chia rẽ dân tộc” và kiến nghị thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội thì chẳng những họ đã xuyên tạc lịch sử, mà còn là một sai lầm nghiêm trọng về tư tưởng, chính trị.          Nếu đi theo con đường mà một số người kiến nghị: “Chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị sang cái gọi là “dân chủ” kiểu phương Tây… thì kịch bản và hậu quả sẽ như thế nào, khi Họ không hề quan tâm đến sự khác biệt về văn hóa, chính trị, kinh tế, phong tục, tập quán của mỗi quốc gia, dân tộc, vùng miền. Sự thật về lòng “trung thành” đó, thực chất là tuyên truyền luận thuyết “dân chủ không biên giới”, “nhân quyền cao hơn chủ quyền” “Nhà nước toàn dân” và coi đó là chuẩn mực để thực hiện “chủ nghĩa can thiệp mới” và sẵn sàng đổi trắng thay đen những thành quả mà nhân dân ta đã đạt được trong những năm qua.         Việc một số người ca ngợi mô hình “xã hội dân sự”, “cách mạng màu”, “cách mạng hoa Hồng” ở các nước Trung Á vừa qua..., từ đó cho rằng, một “xã hội dân chủ” thực sự ở Việt Nam phải là một “xã hội dân sự” của nhân dân, lợi dụng “dân chủ” để tự do lập hội, nhóm không đúng quy định pháp luật, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước của các cơ quan chức năng, thậm chí trá hình, hoạt động chống Đảng, Nhà nước Việt Nam...  Những việc làm trên có thể chứng minh rõ ràng rằng, họ đang tìm mọi phương cách nhằm kích động những phần tử phản động, bất mãn với Đảng, Nhà nước, chế độ ta; tập hợp, tạo dựng phe cánh, gây “điểm nóng” về xung đột, gây rối loạn tình hình chính trị, xã hội và khi có điều kiện thì xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta thể hiện ở việc, họ viện dẫn với các màn kịch nhiều hồi, nhiều lớp, với lý do “chăm lo cho xây dựng nền dân chủ, đem lại hạnh phúc cho người dân Việt Nam,...”.        Nhân dân Việt Nam đã đi qua hai cuộc chiến tranh thần thánh để tự bảo vệ mình, tự giải phóng mình nên càng thấu hiểu thế nào là tự do độc lập, thế nào là toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ. Vì vậy, đương nhiên, nhân dân Việt Nam sẽ biết nhìn nhận ai là bạn, ai là thù. Sự thật vẫn là sự thật và bản thân nó chứa đựng chân lý, không ai có thể dùng ý muốn chủ quan để áp đặt.          Còn đối với những cán bộ, đảng viên có ý kiến khác với đường lối, quan điểm của Đảng, đây là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, chúng ta cũng phải đấu tranh, phê phán, làm rõ đúng - sai thông qua đối thoại, trao đổi, tọa đàm, thuyết phục trên tinh thần đồng chí, tăng cường đoàn kết, đồng thuận, không đẩy họ về phía các thế lực thù địch mà cố gắng lôi kéo họ về phía chúng ta; chúng ta phê phán quan điểm sai chứ không phê phán con người, xúc phạm, đả kích cá nhân.        Đấu tranh với các quan điểm sai trái, bảo vệ đường lối của Đảng, chúng ta cũng phải xem lại mình, xem lại chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước có chỗ nào không đúng, còn khiếm khuyết cần phải sửa chữa, bổ sung, hoàn thiện; những nội dung nào thực hiện chưa tốt cần phải chấn chỉnh, thực hiện tốt hơn để giải tỏa bức xúc của nhân dân và cán bộ, những nội dung nào có vấn đề hoặc chưa rõ cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, qua đó hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Như vậy, sự phê phán đã chuyển thành tự phê phán, sự phê phán tiêu cực đã chuyển thành phê phán tích cực./.       

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng ta đã nhận thức được tính tất yếu khách quan, cấp thiết của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 01/1994), Đảng ta đã chính thức nêu vấn đề xây dựng “Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”.
Trải qua các kỳ Đại hội Đảng, nhận thức của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ngày càng được bổ sung và có những bước phát triển quan trọng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta đã có những bổ sung, phát triển lý luận về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những đặc trưng cơ bản là: Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật, pháp luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội; nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, tăng cường kỷ cương, kỷ luật; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Những nhận thức cơ bản này là đảm bảo quan trọng cho quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đạt kết quả tích cực, tổ chức bộ máy ngày càng hoàn thiện hơn, phương thức hoạt động của Nhà nước được đổi mới, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong những năm qua còn bộc lộ một số hạn chế, đáng chú ý là: Sự chồng chéo trong việc phân định chức năng, nhiệm vụ và phương thức hoạt động giữa Đảng và Nhà nước. Hệ thống chính sách, pháp luật, các công cụ quản lý chưa theo kịp và chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; bộ máy nhà nước còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ; tổ chức và hoạt động còn nặng nề, chưa phân định tốt trách nhiệm, quyền hạn, sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan quyền lực; một bộ phận cán bộ, công chức nhà nước chưa thật sự trong sạch, vững mạnh; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng; kỷ cương xã hội bị buông lỏng ... Tất cả những hạn chế, yếu kém đó dẫn đến nguy cơ làm giảm lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ, đó cũng là cơ hội để các thế lực thù địch lợi dụng kích động, đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Tự diễn biến, tự chuyển hóa trong bộ máy nhà nước ta xuất hiện từ hai hướng: một mặt, đó là âm mưu, thủ đoạn và hoạt động tác động chuyển hóa chính trị của các thế lực thù địch; mặt khác, đó là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chính trị trong nội bộ ta. Yếu tố bên ngoài tạo điều kiện thúc đẩy yếu tố bên trong. Yếu tố bên trong tạo sự chú ý và là điều kiện thuận lợi cho yếu tố bên ngoài xâm nhập, can thiệp, chống phá nhà nước ta. Trong đó “tự chuyển hóa” từ bên trong bộ máy nhà nước là nguy hiểm nhất, khó nhận biết nhất vì nó quyết định sự thay đổi về bản chất nhà nước và chế độ chính trị. Do vậy, nếu không chủ động ngăn chặn, phòng, chống ngay từ đầu những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” thì có thể dẫn đến nguy cơ khôn lường, phá vỡ định hướng mục tiêu, mô hình xây dựng nhà nước, làm sai lệch bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước đã được xây dựng 70 năm qua. Thực tế trên đòi hỏi chúng ta phải nhận diện và kiên quyết đấu tranh phòng, chống những biểu hiện sau:
Trước hết, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" làm sai lệch nhận thức về vị trí vai trò, chức năng của nhà nước
Nguy cơ này thường được biểu hiện dưới hai thái cực, hoặc là cố tình làm lu mờ Nhà nước với tư cách là một thiết chế chính trị trung tâm có vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, hoặc là đề cao vai trò toàn quyền thống trị, quyết định mọi vấn đề xã hội của nhà nước. Theo đó, làm mất nền tảng tư tưởng, quan điểm xây dựng và đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bấy lâu nay chúng ta tìm tòi, định hướng xây dựng.
Để đấu tranh loại bỏ những biểu hiện, tác động nguy hại này, vấn đề quan trọng hàng đầu là phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức về quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, những thành quả xây dựng Nhà nước hơn 70 năm qua, trên cơ sở đó, đẩy mạnh đấu tranh, loại trừ sự thẩm thấu của các quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch vào nội bộ, góp phần loại trừ nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước và quần chúng nhân dân.
Thứ hai, "tự diễn biến", 'tự chuyển hóa" làm sai lệch mục đích và tính hiến định của Hiến pháp, pháp luật về nguyên tắc tổ chức quyền lực của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Trong vấn đề này, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có thể là những tư tưởng và hành động xuyên tạc, phủ nhận Hiến pháp, pháp luật, phá vỡ tính thống nhất quyền lực của Nhà nước ta, khuếch trương những hạn chế khó có thể tránh khỏi trong quá trình thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của các cơ quan công quyền của nước ta để cổ súy cho tư tưởng tam quyền phân lập của nhà nước tư sản, làm chệch hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Để loại bỏ nguy cơ này, đồng thời với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, chúng ta cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, hướng tới một nền pháp luật vững mạnh, đồng bộ, bảo đảm tính chi phối mọi mặt đời sống xã hội và tính tối thượng của Hiến pháp, pháp luật trong điều chỉnh các quan hệ xã hội, nâng cao tính khả thi, tính nghiêm minh và quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật; thấy rõ bản chất và tính nguy hại trong cơ chế tam quyền phân lập của nhà nước tư sản, làm cơ sở loại bỏ những quan điểm, tư tưởng sai trái, thù địch.
Thứ ba, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có thể làm cho cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước trở nên lỏng lẻo, thiếu trong sạch, không thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ
Bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu bảo đảm sự thành công của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành xã hội.  "Tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trên lĩnh vực này, một mặt xuất phát từ nhận thức sai lầm kết hợp với căn bệnh cá nhân chủ nghĩa và những yếu kém của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ. Mặt khác, xuất phát từ mưu đồ "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch nhằm gây nên những mâu thuẫn, bất ổn trong nội bộ bộ máy nhà nước, bất bình trong nhân dân và trong xã hội làm nguyên cớ để kích động quần chúng nhân dân biểu tình, chống đối, chống phá nhà nước ta.
Để phòng chống nguy cơ này, đi đôi với việc quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong sạch vững mạnh, cần tập trung rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý cán bộ, công chức; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền của mỗi cán bộ, công chức; tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm của hoạt động công vụ; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, bảo đảm cho đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước thật sự là công bộc của nhân dân. Bên cạnh đó, phải chú trọng nâng cao khả năng “tự bảo vệ” an ninh chính trị nội bộ, nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Đây là nhiệm vụ hệ trọng, có nhiều thuận lợi, song cũng không ít khó khăn, thách thức, trong đó có nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhiệm vụ thường xuyên và cấp bách, đòi hỏi phải được quán triệt sâu sắc và thực hiện kiên quyết ở mọi cấp, mọi ngành, mọi tổ chức và mỗi công dân.

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2016

PHẢI CHĂNG TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY GIAI CẤP CÔNG NHÂN KHÔNG CÒN SỨ MỆNH LỊCH SỬ?

Nhằm phủ nhận học thuyết Mác - Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, các thế lực thù địch cho rằng, giai cấp công nhân đã “teo đi”, đã “tan biến” vào các giai tầng xã hội khác; địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân đã thay đổi nhiều, giai cấp này đã “trung lưu hoá”, thậm chí trở thành “nhà tư bản” khi đã có cổ phiếu trong các xí nghiệp, công ty.
Thực tế chứng minh rằng, quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa dù có mở rộng và hiện đại hoá đến đâu, những hình thức của nó có thay đổi thế nào chăng nữa thì nó vẫn không ngừng tái sinh ra quan hệ tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong lòng chế độ tư bản đang diễn ra hết sức gay gắt. Giai cấp tư sản đã và đang tìm mọi cách để điều chỉnh các quan hệ tư bản chủ nghĩa hòng cứu vãn chế độ thống trị của chúng. Chúng có thể đạt được một số thành tựu và kết quả nào đấy nhưng vẫn không sao khắc phục được mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản. Ở nơi này hay nơi khác, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa vẫn còn khả năng phát triển, nhưng phải thường xuyên đương đầu với các cuộc khủng hoảng nặng nề, với nhiều cơn suy thoái và nạn thất nghiệp thường xuyên không tránh khỏi của hàng chục triệu người. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân tuy đang đứng trước những thử thách hết sức nặng nề, nhưng bức tranh toàn cảnh của sự phát triển lực lượng sản xuất thế giới vẫn đang chuẩn bị những tiền đề khách quan cho giai cấp công nhân thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình dù có trải qua những bước thăng trầm, quanh co, nhưng nó vẫn tiếp tục diễn ra theo quy luật khách quan của lịch sử. Đặc điểm lớn nhất của thời đại hiện nay là giai cấp công nhân đã, đang và sẽ vươn lên nắm quyền lực nhà nước bằng nhiều con đường khác nhau. Bởi lẽ, nó là giai cấp duy nhất đại diện cho lực lượng sản xuất hiện đại, cho phương thức sản xuất tiên tiến. Giai cấp công nhân là người đại diện cho lợi ích và quyền lực của nhân dân, của nhân loại tiến bộ.
Phải chăng, hiện nay trong các nước tư bản phát triển, giai cấp công nhân không còn bị bóc lột như trước, đã “trung lưu hoá” và có cổ phần trong xí nghiệp, cho nên giai cấp công nhân không có tinh thần cách mạng như trước, không còn có thể đóng vai trò lãnh đạo cách mạng trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản?
           Đúng là hiện nay, việc thực hiện cổ phần hóa ở các nước tư bản phát triển đang diễn ra với quy mô ngày càng rộng khắp. Người lao động có thể mua cổ phiếu ở xí nghiệp, công ty cổ phần nào đó với hy vọng thu lợi tức cổ phần và lãi vốn. Tuy nhiên, cần khẳng định rằng, việc bán cổ phiếu cho công nhân không những không động chạm đến quyền lợi của giới chủ, mà trái lại càng làm tăng thêm quyền lực kinh tế cho bọn tư bản. Một chủ tư bản không cần một số lượng tư bản lớn cũng có thể chi phối cả công ty, hoặc nhiều công ty trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh hết sức lớn. Bán cổ phiếu cho ngưòi lao động chỉ diễn ra trong chừng mực không tổn hại đến quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, đến lợi ích của giới chủ. Khi đã có cổ phiếu, dù người công nhân có được những quyền lợi nhất định gắn với tình hình sản xuất của công ty và lợi tức do kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh đem lại, nhưng thực chất nguồn lợi nhuận ấy chẳng qua là một phần giá trị thặng dư do chính công nhân làm ra, chứ không phải bớt đi giá trị thặng dư mà giới chủ tư bản đã bỏ túi. Vậy là, người công nhân không phải đã trở thành “nhà tư bản” theo cái cách người ta nói, mà là “thành nhà tư bản đối với chính mình”. Như vậy, công nhân hiện nay dù có cổ phiếu với giá trị cao hơn trước cũng chẳng vì thế mà thay đổi địa vị làm thuê và bị bóc lột trong xã hộỉ tư bản. Chế độ cổ phiếu thật sự là phương pháp hữu hiệu cột chật người lao động và bắt họ lệ thuộc hơn nữa vào giới chủ. Hy vọng thay đổi địa vị người lao động trở thành người chủ thật sự ở các nước tư bản chủ nghĩa, do đó chỉ là ảo tưởng, hoặc đó là hành động tự lừa đối mà thôi. Việc mua bán cổ phiếu ở các nước tư bản đã tạo nên cái gọi là “hiệu ứng của cải”, làm cho tình hình mua đi bán lại các cổ phiếu trên thị trường chứng khoán ngày càng trở nên nhộn nhịp, làm cho tư bản giả sẽ ngày càng tăng lên so với tư bản thực tế và càng nói lên tính chất ăn bám của chủ nghĩa tư bản độc quyền, chứ chẳng phải chủ nghĩa tư bản đã là “chủ nghĩa tư bản nhân dân” như người ta cố tình tô vẽ.
Giai cấp công nhân nếu đã trở nên “trung lưu hoá”, thì cái sự “trung lưu hoá” ấy là sự phản ánh mức sống của họ trong điều kiện mới chứ không phải làm thay đổi bản chất cách mạng của giai cấp công nhân; đó là do tiến bộ chung của sự phát triển xã hội và là kết quả đấu tranh, liên tục, bền bỉ của chính giai cấp công nhân trong đấu tranh chống giai cấp tư sản suốt nhiều thế kỷ qua. Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, cũng như sự biến đổi cơ cấu xã hội, mức sống cao về vật chất, tinh thần của giai cấp công nhân làm cho diện mạo của giai cấp công nhân hiện đại trong xã hội tư bản không còn giống như những mô tả của C.Mác trong thế kỷ XIX. Đó là sự thật. Thế nhưng, từ những biến đổi đó mà đi đến kết luận giai cấp công nhân không còn bản chất cách mạng, không thể giữ vai trò lãnh đạo, thực hiện sứ mệnh lịch sử nữa thì đó là sai  lầm cả về chính trị và khoa học.
Lại có quan điểm cho rằng thời đại ngày nay là thời đại của nền “văn minh trí tuệ”, của “kinh tế tri thức”, do đó trí thức mới là lực lượng tiên phong, có vai trò lãnh đạo cách mạng!
Đúng là trí thức có vai trò quan trọng trong mọi thời đại. Trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới, vai trò trí thức ngày càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Song, trí thức không thể đóng vai trò lãnh đạo thay thế giai cấp công nhân. Bởi lẽ: Trong xã hội, trí thức chỉ là một tầng lớp xã hội đặc biệt và không thuần nhất. Nó không đại biểu cho một phương thức sản xuất độc lập, không phải là một lực lượng kinh tế, chính trị độc lập trước các giai cấp và tầng lớp xã hội khác. Do đó, trí thức không có hệ tư tưởng riêng. Nó phải phục tùng và chịu ảnh hưởng hệ tư tưởng của giai cấp nào thống trị xã hội. Do địa vị kinh tế - xã hội của nó, trí thức không thể là người lãnh đạo cách mạng; mặc dù tất cả các giai cấp thống trị trong lịch sử đều cần đến trí thức và đào tạo ra một đội ngũ trí thức của mình để thực hiện vai trò của nó đối với xã hội. Mặt khác, trí thức không có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản. Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, trí thức cũng là người làm thuê và bị bóc lột, nhưng lại là tầng lớp làm thuê đặc biệt, được giai cấp tư sản đào tạo, sử dụng và có một bộ phận được chế độ tư bản ưu đãi. Trí thức không phải là tầng lớp xã hội có tinh thần cách mạng triệt để như giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản. Thực tế lịch sử cho thấy chưa bao giờ có một tầng lớp trí thức nào có thể thay thế một giai cấp để lãnh đạo một cuộc cách mạng xã hội nhằm thay thế chế độ này bằng một chế độ xã hội khác. Trí thức bao giờ cũng là trí thức của một giai cấp nhất định và thường là của giai cấp thống trị xã hội.
Cần nhắc lại luận điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản: “Giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình, mà nó còn tạo ra nhũng người sử dụng vũ khí ấy - những công nhân hiện đại, những người vô sản”[1]. Luận điểm nổi tiếng đó càng trở nên có ý nghĩa trong điều kiện lịch sử mới. Chủ nghĩa tư bản đang điều chỉnh là đang làm cái việc rèn giũa vũ khí sẽ giết mình thêm sắc nhọn hơn; những người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản - giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân sẽ ngày càng nhận thức rõ hơn sứ mệnh lịch sử của mình là loại bỏ chủ nghĩa tư bản ra khỏi đời sống xã hội, xây dựng chủ nghĩa cộng sản văn minh; xác định rõ hơn con đường, biện pháp để thực hiện sứ mệnh lịch sử vĩ đại đó./.


[1] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, t.4, tr.605.

PHẢI CHĂNG “BẢO VỆ TỔ QUỐC CHỈ LÀ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ QUỐC GIA KHÔNG CẦN BẢO VỆ CHẾ ĐỘ, BẢO VỆ ĐẢNG”?

Bảo vệ T quốc xã hội chủ nghĩa là một nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong giai đoạn hiện nay. Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện sự nghiệp quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bám sát đặc điểm, tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng trong bối cảnh thế giới, đất nước có nhiều biến động phức tạp và đã đạt được những thành tựu rất quan trọng cả về nhận thức, quan điểm lý luận, cũng như trong tổ chức hoạt động thực tiễn. Quá trình đổi mới nhận thức, phát triển tư duy cũng chính là quá trình đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực thù địch, nhằm khẳng định, bảo vệ và thể hiện rõ hơn những nội dung của tư duy mới.
Từ nhận thức Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là thực thể thống nhất về tự nhiên và chính trị, xã hội, bao gồm toàn bộ các yếu tố địa lý, lãnh thổ, dân cư, các giá trị văn hóa, lịch sử,... và chế độ xã hội chủ nghĩa, Văn kiện Đại hội XII đã khẳng định và chỉ rõ: “Mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh là: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”[1]. Theo tư duy của Đảng, thực chất bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là bảo vệ Tổ quốc trong một chỉnh thể thống nhất: Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa. Tư duy của Đảng thể hiện rõ tính chất toàn diện, thống nhất của mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất, không thể tách rời giữa các nội dung trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ nội dung này cũng có nghĩa là góp phần bảo vệ nội dung khác, và ngược lại. Bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ gắn bó chặt chẽ với bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa cũng bao hàm cả bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước.
Những quan điểm cho rằng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay “chỉ là bảo vệ đất nước, chủ quyển, lãnh thổ quốc gia”, không cần phải gắn với bảo vệ chế độ, an ninh chính trị, bảo vệ Đảng là những quan điểm thù địch, sai trái và phản khoa học. Tính chất thù địch, sai trái và phản khoa học đó thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, thực chất của những quan điểm đó là nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta, thủ tiêu lực lượng lãnh đạo và chế độ xã hội mà chỉ có nó nhân dân ta mới có được độc lập, tự do, hạnh phúc thực sự; Thứ hai, việc tách rời mặt tự nhiên và mặt chính trị, xã hội là điều không thể được đối với bất cứ tổ quốc nào. Những quan điểm đòi tách rời ra đó thực chất là nhằm hướng tới hủy hoại tính chất xã hội chủ nghĩa của mặt chính trị, xã hội của Tổ quốc Việt Nam, làm cho Tổ quốc Việt Nam của nhân dân ta mang tính chất khác, tính chất tư sản.
Tính chất nguy hiểm của quan điểm này thể hiện ở chỗ, không những nó làm cho chúng ta dễ rơi vào mất cảnh giác, trong thực tiễn bảo vệ Tổ quốc dễ dẫn đến chỉ chú trọng một chiều mặt bảo vệ này mà xem nhẹ, thậm chí bỏ qua mặt bảo vệ khác; mà còn làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa - mục tiêu, lý tưởng do chính lịch sử dân tộc ta, do chính nhân dân ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn và phấn đấu hy sinh với biết bao mồ hôi, công sức và cả máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam suốt hơn tám thập kỷ qua - trong ý thức của nhân dân và của cả cán bộ, đảng viên. Thực tế, trong chúng ta không phải không có người khi nói đến bảo vệ Tổ quốc là chỉ nói đến bảo vệ đất nước, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, “không nói đến” bảo vệ chế độ; tính từ “xã hội chủ nghĩa” có vẻ như “dị ứng” trong nhận thức, tư tưởng của một số ít người. Khẳng định sự thống nhất và gắn bó chặt chẽ giữa bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là thể hiện rõ sự kiên định về con đường và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong bối cảnh lịch sử mới trong tư duy của Đảng. Ở đây cần phải nhận thức rõ thêm, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cũng hàm chứa cả việc bảo vệ chế độ và sự lãnh đạo của Đảng; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và sự lãnh đạo của Đảng cũng hàm chứa cả việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Điều đó phản ánh mối quan hệ, không thể tách rời giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp, giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữa lợi ích của Đảng và lợi ích của các tầng lớp nhân dân trong mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta. Mọi sự tách rời giữa các mặt của các mối quan hệ đó đều là không đúng với bản chất và thực chất của mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./. 

[1] Đảng CSVN, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr.147-148

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2016

CÁC GIÁ TRỊ CĂN BẢN TRONG QUAN NIỆM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ NIN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Trong quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, mục tiêu của thời kỳ qúa độ lên CNXH là để chuẩn bị các cơ sở vật chất, tinh thần cho CNXH phát triển trên cơ sở của chính nó. Tính chất chính trị của thời kỳ qúa độ lên CNXH là sự tiếp tục đấu tranh giai cấp gay go, quyết liệt với những nội dung mới, bằng những biện pháp mới và trong những điều kiện mới hoàn toàn khác so với thời kỳ GCCN chưa giành được chính quyền. Đặc điểm về kinh tế - xã hội của thời kỳ qúa độ lên CNXH là tính chất “không thuần nhất” với sự “đan xen của những mảnh những bộ phận của xã hội cũ”, những “dấu vết của xã hội cũ mà nó vừa thoát thai ra” bên cạnh những mầm mống, những yếu tố vừa mới được xây dựng của xã hội XHCN.  
Theo đó, những người xây dựng CNXH phải sáng tạo khi tìm kiếm các mô hình riêng, biện pháp - con đường đặc thù, phù hợp với bối cảnh lịch sử để đi lên CNXH. V.I.Lênin đã nêu luận điểm rất có giá trị về  vấn đề này: "Tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội, đó là điều không thể tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến lên chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau. Mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội"1.
Cũng theo tư tưởng của V.I.Lê nin, việc tìm kiếm con đường đi lên CNXH là một quá trình lâu dài, khó khăn, cho nên phải kiên định, kiên nhẫn, tỷ mỉ để “làm đi làm lại nhiều lần” và mạnh dạn, khoa học để thay đổi – kể cả những vấn đề chiến lược. Nó quanh co, phức tạp và đôi khi phải biết chấp nhận cả những “con đường vòng”, biết chấp nhận những thất bại, bước lui tạm thời. Phải biết tích hợp các giá trị nhân loại, những yếu tố hợp lý của xã hội TBCN, chắt lọc những giá trị truyền thống của dân tộc… để xây dựng xã hội mới... 
Có thể khái quát thành 2 giá trị căn bản trong quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhận thức con đường đi lên CNXH 
Thứ nhất là giá trị chỉ đạo thực tiễn.
 Chủ nghĩa Mác là học thuyết không chỉ giải thích thế giới mà còn là học thuyết để cải tạo thế giới, bởi vậy, các nhà kinh điển đã rất quan tâm đến vấn đề chỉ đạo biện pháp xây dựng CNXH. Trong khi xây dựng CNXH, cùng với nhận thức rõ về tính tất yếu, đặc trưng hay mô hình của nó, các Đảng Cộng sản rất cần đến chỉ đạo về phương pháp - biện pháp, cách thức, lộ trình, v.v. và những điều đó có thể tìm thấy trong kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin. 
Mục đích quy định biện pháp, cho nên từ mục tiêu cao cả nhất của CNXH là giải phóng con người và tạo ra điều kiện cho sự phát triển tự do, toàn diện cho mỗi người và cho mọi người[1], hệ thống biện pháp, hay con đường đi lên CNXH trước tiên phải là phát triển sản xuất, phải trên cơ sở của LLSX xã hội hóa trình độ cao để có năng suất lao động cao, từ đó mới có của cải vật chất dồi dào để thỏa mãn mọi nhu cầu của mọi người. CNXH phải là xã hội giàu có sung túc chứ không phải là xã hội bình quân sự nghèo khổ. Theo đó, trong quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tất cả những gì cản trở sự phát triển của sản xuất đều là phản động với lịch sử và cần được loại bỏ. CNXH là phát triển sản xuất và mọi biện pháp mà nó áp dụng cũng trước hết là để “tăng thật nhanh LLSX lên”. Đây là giá trị phương pháp luận hàng đầu của chủ nghĩa Mác - Lênin. 
Thứ hai, là giá trị khoa học và cách mạng bao gồm phương pháp luận, định hướng và cơ sở để thẩm định những sáng kiến mới về biện pháp hay con đường xây dựng CNXH.
Với hệ thống lý luận CNXH khoa học nói chung, các  nhà kinh điển đặc biệt nhấn mạnh nhiều lần với hậu thế về ý nghĩa phương pháp luận, “kim chỉ nam” của học thuyết này. Với hàm ý khuyến khích tính sáng tạo, tránh rập khuôn giáo điều, phương pháp luận duy vật biện chứng về lịch sử với các đặc trưng tư duy: khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể… có thể được xem là định hướng chung cho tư duy về con đường đi lên CNXH.
C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin bàn khá kỹ lưỡng với những lưu ý sâu sắc về tư duy biện chứng và biện pháp linh hoạt, sáng tạo. Xây dựng CNXH phải biết gắn liền nguyên lý chung “với mảnh đất hiện thực”, có thể in “dấu ấn riêng của quốc gia mình” lên quá trình xây dựng CNXH của mỗi nước. Theo đó, những người xây dựng CNXH phải sáng tạo khi tìm kiếm các mô hình riêng, biện pháp - con đường đặc thù, phù hợp với bối cảnh lịch sử để đi lên CNXH. Nó là một quá trình lâu dài, khó khăn, cho nên phải kiên định, kiên nhẫn, tỷ mỉ để “làm đi làm lại nhiều lần” và mạnh dạn, khoa học để thay đổi – kể cả những vấn đề chiến lược. Nó quanh co, phức tạp và đôi khi phải biết chấp nhận cả những “con đường vòng”, biết chấp nhận những thất bại, bước lui tạm thời. Phải biết tích hợp các giá trị nhân loại, những yếu tố hợp lý của xã hội TBCN, chắt lọc những giá trị truyền thống của dân tộc để xây dựng xã hội mới...
Tính chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác còn thể hiện ở chỗ, học thuyết khoa học này, mang tính chất “mở” và chấp nhận sự bổ sung phát triển của hậu thế. V.I.Lênin là người đầu tiên khẳng định rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống. Chúng tôi nghĩ rằng những người xã hội chủ nghĩa ở Nga đặc biệt cần phải tự mình phát triển hơn nữa lý luận của Mác, vì lý luận này chỉ đề ra những nguyên lý chỉ đạo chung, còn việc áp dụng nguyên lý ấy thì xét riêng từng nơi, ở Anh không giống ở Pháp, ở Pháp không giống ở Đức, ở Đức không giống ở Nga.” [2]
Tính chất “Khoa học và cách mạng trong chủ nghĩa Mác - Lênin thể hiện cả ở hệ thống - chỉnh thể cũng như trong từng bộ phận hợp thành (Triết học, kinh tế chính trị và CNXH khoa học). Tất cả đều nổi bật ở sự gắn liền lý luận với thực tiễn. Đây là bản chất, nguyên tắc tối cao của chủ nghĩa  Mác - Lênin”[3].


1 V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1976, tập 30, tr.160.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb Tiến bộ, M.1974, tập 4, tr.232.
[3] GS,TS. Hoàng Chí Bảo, Giá trị bền vững và sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê nin và chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb CTQG, H.2012, tr.365