Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016

PHẢI CHĂNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC “THỰC CHẤT CHỈ LÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHÔNG TƯỞNG MỚI”?

Những năm gần đây, nhất là sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu rơi vào khủng hoảng sâu sắc và sụp đổ, các thế lực thù địch đã lớn tiếng công kích, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ tìm mọi cách hòng xóa bỏ chủ nghĩa xã hội hiện thực và thủ tiêu tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong ý thức con người; cố tình gán cho C.Mác và Ph.Ăngghen - những nhà sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học đủ các tội danh, cho rằng chủ nghĩa xã hội khoa học của các ông “thực chất chỉ là chủ nghĩa xã hội không tưởng mới” mà thôi; sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là vì đi theo một học thuyết sai lầm và đề nghị loại bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản, thay vào đó là một thứ chủ nghĩa dân tộc.
Phải chăng chủ nghĩa xã hội khoa học đã không còn sức sống?
Chúng ta biết rằng: “Hệ tư tưởng của giai cấp vô sản - học thuyết của chủ nghĩa xã hội khoa học, tức là chủ nghĩa Mác”[1] là một khoa học nghiên cứu những quy luật và những vấn đề có tính quy luật xã hội - chính trị của quá trình phát triển xã hội từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, cùng những điều kiện, con đường và biện pháp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để thực hiện quá trình phát triển đó của xã hội.
Trong tiến trình phát triển của các khoa học xã hội và nhân văn, chủ nghĩa xã hội khoa học là một khoa học mới mẻ, đang trong quá trình bổ sung, phát triển, trong đó có nhiều vấn đề còn mang tính chất dự báo cần được thực tiễn kiểm nghiệm. Mặt khác, do tính chính trị - thực tiễn của nó mà ngay từ khi hình thành và trong suốt quá trình phát triển, chủ nghĩa xã hội khoa học luôn bị các thế lực thù địch phản bác, công kích từ nhiều phía hòng phủ nhận, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay của thời đại. Song mọi ý đồ phủ nhận chủ nghĩa xã hội khoa học trước đây đã bị thất bại, đang và sẽ tiếp tục thất bại.
Với bản chất cách mạng, khoa học, đồng thời mang đậm tính nhân văn sâu sắc, chủ nghĩa xã hội khoa học không thể bị phủ nhận. Trái lại, chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ không ngừng được bổ sung, phát triển ngày càng phong phú hơn, ngày càng có giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc hơn. Không thể vì sự sụp đổ của một số mô hình cụ thể trong hiện thực vừa qua mà cho rằng chủ nghĩa xã hội khoa học không còn sức sống. Những thành tựu của chủ nghĩa xã hội trong đời sống chính trị thế giới trước đây là không thể phủ nhận. Những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân rất quan trọng là nhận thức và vận dụng chưa đúng những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học vào cuộc sống. Về điều này, chính Ph.Ăngghen đã từng nhắc nhở: đáng tiếc là người ta thường hay nghĩ rằng có thể hoàn toàn thấu đáo một lý luận mới và có thể vận dụng lý luận đó không khó khăn gì, một khi đã nắm được những nguyên tắc chủ yếu và điều đó không phải bao giờ cũng đúng. Song không thể chỉ nhìn vào những sai lầm, khuyết điểm đã qua để mà phủ nhận hoàn toàn tính tất yếu, hợp quy luật của chủ nghĩa xã hội, không thể vì những sai lầm chủ quan mà bác bỏ cả chân lý khách quan của thời đại, mà phủ nhận giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn của chủ nghĩa xã hội khoa học.
Cũng không thể cho rằng các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học là  trừu tượng quá, ít có giá trị ứng dụng trong thực tế. Lý luận đó không bao giờ là đáp án có sẵn cho mọi bài toán của lịch sử, mà chỉ đưa ra những dự báo, những quan điểm và phương pháp khoa học để giải những bài toán đó. Chính những người cộng sản và nhân dân lao động ở mỗi nước phải dựa trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin tự mình tìm ra những giải pháp, những đáp án để giải quyết những vấn để nảy sinh từ thực tiễn cuộc sống luôn không ngừng vận động và phát triển; đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển hoàn thiện những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học trong những điều kiện lịch sử mới. Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ nghĩa xã hội khoa học ngày càng thực sự là khoa học do vận động lịch sử sản sinh ra và tham dự vào quá trình vận động của lịch sử ấy một cách hoàn toàn tự giác, không còn tính chất lý thuyết suông nữa, khoa học đã trở thành khoa học cách mạng như C.Mác và Ph.Ăngghen đã từng khẳng định. 
Những sai lầm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trong những năm vừa qua là một thực tế làm cho thành quả của chủ nghĩa xã hội bị hạn chế, tính ưu việt của chủ nghĩa xã hiện thực bị nghi ngờ. Sự tích tụ của những sai lầm đã làm cho chủ nghĩa xã hội lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng và sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu. Như vậy, sự khủng hoảng, đổ vỡ của chủ nghĩa xã hội hiện thực không phải bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa xã hội, từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa xã hội khoa học. Mà nó bắt nguồn từ những khó khăn trong việc tìm kiếm những hình thức, phương pháp xây dựng xã hội mới chưa từng có trong lịch sử, từ những sai lầm ấu trĩ, non nớt của các cơ quan lãnh đạo, tổ chức, quản lý; những người lãnh đạo đã vận dụng không đúng đắn, thậm chí đã vi phạm những nguyên lý, nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, của chủ nghĩa xã hội khoa học trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực. Sự khủng hoảng, sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực chắc chắn không phải là vô ích, sẽ giúp những người cộng sản chân chính rút ra được những bài học kinh nghiệm về sự tiếp thu, vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học vào quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước.
Từ tình trạng khủng hoảng, sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Liên Xô và Đông Âu từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước, dưới sự lãnh đạo của các đảng cộng sản, các nước xã hội chủ nghĩa đã nhận thức rõ hơn về con đường tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội là tất yếu cần phải cải tổ, cải cách, đổi mới. Trong quá trình cải tổ, cải cách và đổi mới, những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội đã được các nước nêu lên và vận dụng trong thực tiễn đã có được những thành công. Quá trình đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội đến nay cho thấy, nước nào biết vận dụng sáng tạo những nguyên tắc, nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, của chủ nghĩa xã hội khoa học thì hạn chế được những khuyết tật, giữ vững được chủ nghĩa xã hội, tháo gỡ được những khó khăn, vướng mắc và đạt được những kết quả nhất định trong xây dựng xã hội mới. Ngược lại, nước nào tiếp tục xa rời, đi ngược lại những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học, không chịu tiếp thu những bài học đã rút ra từ trong khủng hoảng trước đây, cố đi tìm những giải pháp xa rời thực tiễn, theo những quan điểm cơ hội xét lại, thì ở đó xã hội sẽ ngày càng mất ổn định, khủng hoảng sẽ ngày càng sâu sắc và đưa đến tan vỡ chế độ xã hội chủ nghĩa.
Với cách mạng Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học đề ra đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng. Đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, nhân dân ta đã lựa chọn, đất nước ta đã giành được những thành tựu to lớn và những bước tiến quan trọng: hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, cả nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội, làm tròn nghĩa vụ quốc tế đối với các nước anh em.
Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, vận dụng những nguyên lý, lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học vào thực tiễn hoàn cảnh Việt Nam, đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, độc lập, tự chủ để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kết quả đã thu được những thành tựu quan trọng trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa tư tưởng, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được từng bước cải thiện, quốc phòng, an ninh vững chắc, quan hệ đối ngoại ngày càng rộng mở, tạo ra thế và lực mới cho đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta cũng không tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm. Những sai lầm đó đã được Đảng ta phân tích, làm rõ với thái độ nghiêm túc, thẳng thắn nhìn thẳng vào sự thật, tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục có hiệu quả; rút ra những bài học kinh nghiệm trong quá lãnh đạo cách mạng nói chung và trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nói riêng. Với chủ trương, đường lối đổi mới toàn diện: đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội, đổi mới hoạt động thực tiễn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đổi mới mọi mặt công tác lãnh đạo và quản lý… Trong quá trình đổi mới luôn giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa            Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Về phương pháp, Đảng ta giữ vững tư duy độc lập, tự chủ trong xây dựng đường lối, chính sách đổi mới và xác định hình thức, bước đi phù hợp với đặc điểm tình hình của đất nước. Với tinh thần ấy, Đại hội lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: “Kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam… Kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ trì trệ, chủ quan, nóng vội, đổi mới vô nguyên tắc”; “Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và những vấn đề nảy sinh trong quá trình đổi mới, không ngừng phát triển lý luận, đề ra đường lối và chủ trương đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước; khắc phục một số mặt lạc hậu, yếu kém của công tác nghiên cứu lý luận”[2].
Với niềm tin có căn cứ khoa học, từ thắng lợi của sự nghiệp đổi mới đất nước đã và đang đạt được, chúng ta khẳng định: kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn đúng đắn duy nhất của cách mạng Việt Nam. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm độc lập, tự do cho dân tộc và ấm no hạnh phúc thực sự cho nhân dân, mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” ở nước ta mới được thực hiện. Đó là hiện thực đanh thép chứ không thể giả định khác thế. Công cuộc đổi mới đất nước ta những năm qua sở dĩ đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng bởi vì Đảng ta kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Chỉ từng ấy vấn đề cũng đã cho thấy giá trị và sức sống của chủ nghĩa xã hội khoa học đã từng cần thiết cho cách mạng thế giới và cách mạng Việt Nam như thế nào, chứ hoàn toàn không phải “thực chất chỉ là chủ nghĩa xã hội không tưởng mới” như một số người đang cố tình mưu toan hạ thấp, xuyên tạc và phủ nhận./.




[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 336.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 255 - 256.

TÁC PHẨM THÀ ÍT MÀ TỐT

Trong kho tàng lý luận đồ sộ của V.I.Lênin, tác phẩm “Thà ít mà tốt” là một cống hiến lý luận quan trọng về xây dựng Nhà nước. Nội dung của tác phẩm được Người đọc cho thư ký ghi lại trong nhiều ngày và hoàn thành vào ngày 2-3-1923, công bố trên báo Sự thật số 49 ngày 4-3-1923.
Nội dung tác phẩm
Đánh giá nhà nước sau 5 năm Cách mạng Tháng Mười thành công
Lênin đánh giá đúng tính chất, bản chất, vai trò, ý nghĩa lịch sử trọng đại của nhà nước Xô viết. Người khẳng định: Nhà nước Xô viết đã tạo ra một xã hội mới, một kỷ nguyên mới. Người viết: “Trong hàng mấy trăm năm nay người ta đã xây dựng lên những nhà nước theo kiểu tư sản và đây là lần đầu tiên, chúng ta đã tìm ra một hình thức nhà nước không phải tư sản… Dẫu cho bộ máy nhà nước của chúng ta còn kém cỏi, nhưng nó đã được sáng tạo ra, đó là một phát minh lịch sử vĩ đại nhất, một nhà nước kiểu vô sản đã được sáng tạo ra”. Đồng thời, Lênin không xem thường mặt yếu kém của bộ máy Xôviết sau 5 năm xây dựng và những nguyên nhân của những yếu kém đó, những hạn chế đó là: quan liêu, thủ cựu, bảo thủ, không muốn đổi mới cái gì cả.
Đường lối mà Đảng Bônsêvích Nga đứng đầu là Lênin được đặt ra rất đúng đắn. Yếu tố quyết định lúc này là tổ chức, bao gồm cả bộ máy tổ chức hoạt động thực tiễn. Năm 1923, Lê nin nói nước Nga Xô viết còn xa mới mang đầy đủ tính chất chủ nghĩa xã hội vì bộ máy cồng kềnh, làm việc thì quan liêu, đội ngũ cán bộ sính làm kế hoạch, chỉ đạo thực tiễn yếu, ba hoa, cách mạng suông, xuất hiện bệnh tự mãn của người cộng sản, có cả phần tử xấu, cơ hội.
Tại sao đến thời điểm này, Lênin quan tâm nhiều đến củng cố bộ máy nhà nước ? Sau Cách mạng Tháng Mười, vấn đề này đã được đặt ra, nhưng lúc đó chưa có điều kiện giải quyết vì nội chiến. Trải qua 5 năm củng cố nhưng không nắm chắc phương châm nên đến năm 1923 bộ máy của nhà nước vẫn không đáp ứng được yêu cầu cách mạng mới. Người nói: “Thế là đã năm năm, chúng ta ra sức cải tiến bộ máy nhà nước của ta. Nhưng đó chỉ là một hoạt động phí công, một hoạt động qua năm năm, đã chỉ cho chúng ta thấy rõ rằng hoạt động đó chỉ là vô hiệu, thậm chí còn vô ích, hay thậm chí còn có hại là khác”. Người nói: “Không, bộ máy ấy (bộ máy Xô viết - BT), có thể nói là chúng ta chưa có, và ngay cả những yếu tố cho phép chúng ta xây dựng được bộ máy ấy, chúng ta cũng có ít ỏi đến nực cười”.
Nguyên nhân của nó bắt nguồn từ quá khứ, nhà nước tư sản bị lật đổ nhưng chưa hoàn toàn bị tiêu diệt. Trình độ văn hóa của nhân dân quá thấp. Nội chiến lại diễn ra quá dài. Nhiều cán bộ ưu tú của Đảng phải ra mặt trận, tạo ra chỗ hổng lớn ở địa phương. Trong hoàn cảnh đó, nhà nước Nga phải sử dụng cả những chuyên gia tư sản trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá và quân sự.
Mục đích của việc cải tiến bộ máy nhà nước
Mục đích quốc gia: Nhằm bảo đảm cho nhà nước Xô viết thực sự xứng đáng với danh hiệu là bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở có đầy đủ năng lực quản lý, đưa nhà nước Nga từ sản xuất nhỏ, yếu kém, nông nghiệp lạc hậu tiến lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Mục đích quốc tế: Củng cố bộ máy nhà nước là bài học có tính chất quốc tế, Lênin đã nêu ra hai vấn đề:
- Với nền sản xuất tiểu nông, đất nước bị tàn phá, chính quyền Xô viết có thể đứng vững cho đến khi cách mạng các nước khác có thể đứng vững được không?
- Liệu nước Nga Xô viết có thể tránh được sự xung đột với các nước đế quốc chủ nghĩa hay không?
Yêu cầu và điều kiện cải tiến bộ máy Xô viết
Phải xây dựng được một nhà nước thực sự trong sạch và gương mẫu. Nhà nước đó phải được xây dựng trên cơ sở vững chắc của khối liên minh công - nông. Liên minh công - nông theo Lênin là phải có cái mới về số lượng và chất lượng. Nông dân phải được hợp thành một giai cấp nông dân tập thể. Liên minh công - nông là liên minh chính trị bảo đảm cho họ có quyền làm chủ.
Nhà nước Xô viết phải gọn nhẹ, có hiệu lực. Cán bộ, viên chức trong bộ máy nhà nước phải có phẩm chất và năng lực tốt. Người nói: “Theo ý tôi, phải vĩnh viễn vứt bỏ ngay tất cả những tiêu chuẩn chung về số lượng nhân viên của các cơ quan thuộc bộ ấy. Chúng ta phải lựa chọn đặc biệt cẩn thận những cán bộ của Bộ dân ủy thanh tra công nông, căn cứ vào một sự kiểm tra nghiêm ngặt nhất, chứ không khác được”. Phải qua thi cử và uy tín của bản thân. Người chỉ ra rằng, nên tập trung chọn vào bộ máy nhà nước những cán bộ có kinh nghiệm ở các cơ quan cũng như trong số những sinh viên các trường đại học Xô viết, lựa chọn cán bộ phải theo phương châm “Thà ít mà tốt” ít về số lượng nhưng chất lượng phải cao.
Phải đổi mới thành phần của bộ máy ấy bằng những lực lượng ưu tú của Đảng trong giai cấp công nhân và giới tri thức. Vì thế, cần phải: “Một là học tập, hai là học tập, ba là học tập mãi, và sau nữa, phải làm sao cho học thức ở nước ta không nằm trên giấy hoặc là một lời nói theo mốt nữa...”.
Điều kiện để xây dựng bộ máy nhà nước ấy là: Một là, giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải có trình độ cần thiết, vì thế mỗi người phải tự nỗ lực, cố gắng học tập để nâng cao trình độ. Hai là, phải làm cho học thức đó không nằm trong giấy tờ hoặc chỉ là một lời nói theo mốt mà phải coi nó là bộ phận khăng khít của cuộc sống, ra sức học tập để phục vụ lợi ích chung.
Phương châm, biện pháp củng cố bộ máy nhà nước
Phương châm: “Thà ít mà tốt”. Thứ nhất cải tổ bộ máy nhà nước phải được tiến hành có trọng điểm, đó là Bộ dân ủy thanh tra công nông. Thứ hai tiến hành vững chắc; thận trọng; tránh lề mề, kém hiệu quả.
Biện pháp: Thứ nhất, tăng cường công tác kiểm tra; củng cố quan điểm của Đảng và Nhà nước; lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Cán bộ lãnh đạo phải là người cộng sản ưu tú, phải có thi khảo sát trình độ, phải hiểu được quá trình vận hành của bộ máy nhà nước. Thứ hai, phải thanh lọc khỏi bộ máy nhà nước những kẻ quan liêu, những kẻ ăn hối lộ, những phần tử lạc lõng khác.
Ý nghĩa của tác phẩm
Tác phẩm có ý nghĩa thực tiễn cực kỳ quan trọng, nó trang bị cho những người cộng sản lý luận về xây dựng nhà nước Xô viết đứng vững và phát triển. Đây là di huấn chính trị có ý nghĩa quốc tế đối với cái đảng mácxít lêninnít lãnh đạo chính quyền. Tác phẩm đã và đang tiếp tục đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động thực tiễn của Đảng Cộng sản về xây dựng CNXH và CNCS.

Thấm nhuần tư tưởng của Lênin, Đảng ta đã vạch ra đường lối đổi mới toàn diện, trong đó có cải cách bộ máy nhà nước nhằm làm cho bộ máy nhà nước trong sạch và vững mạnh. Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương 6 lần 2 khóa VIII và Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 4 khóa XI là sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo những vấn đề lý luận và thực tiễn từ tác phẩm “Thà ít mà tốt” của V.I.Lênin vào điều kiện cụ thể của Đảng ta. Tình hình chính trị phức tạp hiện nay càng đặt ra cho Việt Nam phải kiên trì con đường mình đã chọn. Khẳng định đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã vạch ra là con đường đúng đắn nhất để nhà nước thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong quá trình chuyển đổi và thực hiện cơ chế quản lý mới, vấn đề nhà nước, vấn đề quản lý hành chính của nhà nước càng trở nên cấp thiết và có ý nghĩa lớn lao nhằm phân định rõ ràng ranh giới giữa Đảng và Nhà nước. Cách mạng Việt Nam thời gian qua đã phản ánh đúng nhưng tư tưởng vĩ đại đó của Lênin, đã đứng vững và đang dốc toàn lực vào công cuộc đổi mới toàn diện, đưa đất nước vốn nghèo nàn lạc hậu tiến lên một đất nước phồn vinh./. 

Thứ Hai, 3 tháng 10, 2016

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH DÂN TỘC HỌC TRÊN THẾ GIỚI

Cho đến giữa thế kỷ XIX, khoa học dân tộc học được tách ra khỏi khoa học lịch sử, trở thành một ngành khoa học độc lập. Song dân tộc học đã có quá trình hình thành lâu dài trong lịch sử nhân loại.
Thời cổ đại, những nguồn tư liệu về dân tộc học trên thế giới đã được ghi chép, tích lũy phong phú trong nhiều sách lịch sử, ký sự, địa lý, văn học... Thời cổ đại có những tài liệu ghi chép mang tính chất dân tộc học. Trong cuốn Sáng thế kỷ (bộ sách đầu của Kinh Cựu ước) đã cung cấp những tư liệu về tộc người Do Thái ở Trung Đông. Bản anh hùng ca Iliát và Ôđixê của Hôme đã miêu tả những sắc tộc trong đoàn quân Hy Lạp ở vùng Địa Trung Hải. Các sách cổ của Trung Quốc (Kinh thi của Khổng Tử, Sử ký của Tư Mã Thiên), Ấn Độ (Kinh Vệ Đà, Sử thi Ramayana)... đều chứa đựng nhiều tư liệu về dân tộc học.
Thời trung cổ, ở vùng Trung Đông, trong sách lịch sử của các học giả Ảrập đã ghi chép nhiều tư liệu dân tộc học về vùng đất này. Trong biên niên sử Trung Quốc, phần viết về sư Huyền Trang đời Đường đã nói đến nhiều phong tục tập quán của các dân tộc ở Trung Á, Đông Nam Á. Tác phẩm Cuộc đời của Máccô Pôlô ghi chép về phong tục, tập quán, văn hóa của các nước phương Đông. Trong chuyến đi vòng quanh thế giới, Côlôngbô đã tìm ra châu Mỹ và ghi chép nhiều tư liệu về thổ dân da đỏ. Chuyến thám hiểm của Magienlăng ghi chép lại đặc điểm các dân tộc ở các nước Á, Phi, Mỹ, châu Đại Dương.
Thời cận đại, tư liệu dân tộc học ngày một nhiều, mang ý nghĩa dân tộc học trực tiếp hơn. Năm 1788, để chuẩn bị cho thành lập Hội Phi châu (African Association), các nghiên cứu và khảo sát châu Phi được đẩy mạnh, đem lại nhiều tư liệu phong phú về các dân tộc ở đây. Cuối thế kỷ XVIII, lần đầu tiên thuật ngữ Dân tộc học - Ethnography, xuất hiện trong tác phẩm Khảo luận về giáo dục tri thức với dự định thành lập một khoa học mới của Chavannes (Pháp) xuất bản ở Thụy Sĩ năm 1787. Tại đây, Chavannes định nghĩa dân tộc học như là lịch sử những tiến bộ của các dân tộc.

Đến giữa thế kỷ thứ XIX, dân tộc học đã trở thành một khoa học độc lập. Nhiều công trình dân tộc học, tạp chí chuyên ngành được xuất bản, nhiều cơ quan nghiên cứu chuyên môn được thành lập ở Tây Âu, điển hình ở Anh, Pháp, Đức... Lúc này, khoa học dân tộc học đã xác định được phạm vi, đối tượng, chức năng và nhiệm vụ nghiên cứu có tính độc lập. C.Mác và Ph.Ăngghen đã có những tác phẩm nổi tiếng, có ý nghĩa dân tộc học sâu sắc như: Sự hình thành ý thức Đức; Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước... làm cơ sở lý luận quan trọng cho hình thành, phát triển trường phái dân tộc học mác xít.

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ LÀ MỘT TẤT YẾU HIỆN NAY


Thời gian vừa qua lợi dụng sự kiện chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ và sự tạm thời nắng xuống của Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế, các học giả tư sản và một số người trước đây đã từng là “cộng sản” qua miệng lưỡi của mình đã tuyên truyền rằng: phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã cơ bản bị thủ tiêu. Họ cho rằng lực lượng còn lại hiện nay chỉ như là những cơ thể yếu ớt đang thoi thóp trong môi trường phát triển của chủ nghĩa tư bản, sớm hay muộn những cơ thể yếu ớt đó cũng sẽ ngừng thở và bị đào thải ra khỏi quỹ đạo phát triển của chủ nghĩa tư bản. Họ khẳng định rằng chỉ có con đường tư bản chủ nghĩa mới là vĩnh cửu, trường tồn, mới hợp quy luật trong sự tồn tại phát triển của xã hội loài người. Vậy những ngôn từ của những miệng lưỡi nói trên đúng hay sai, và sự thật có như họ nói hay không? Để đi tìm câu trả lời nghiên cứu, tìm hiểu chủ nghĩa tư bản và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế sẽ thấy rõ.
Trước hết bàn về chủ nghĩa tư bản, vào thế kỷ thứ XIV, XV trong lòng xã hội phong kiến đang trên đà suy tàn (ở châu Âu) đã xuất hiện một giai cấp mới, giai cấp tư sản với một kiểu phương thức sản xuất mới, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ngay từ khi mới ra đời phương thức sản xuất này đã tỏ ra vượt trội so với phương thức sản xuất phong kiến, càng phát triển nó càng phá tan những cát cứ phong kiến. Như C.Mác đã nhận xét: trong quá trình phát triển của mình chủ nghĩa tư bản đã tạo ra lượng vật chất bằng tất cả các xã hội trước đó cộng lại. Tuy nhiên từ khi xuất hiện đến khi giành thắng lợi trước giai cấp phong kiến, giai cấp tư sản cũng phải trải qua quá trình đấu tranh suốt mấy thế kỷ từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Từ khi giành thắng lợi và thiết lập chế độ tư bản chủ nghĩa đến nay, với bản chất của chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất giai cấp tư sản đã tiến hành áp bức bóc lột đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động thông qua giá trị thặng dư, nó đã tạo lên chính trong lòng nó những mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không thể điều hòa. Theo quy luật mâu thuẫn khi đạt đến đỉnh điểm thì tự khắc mâu thuẫn đõ sẽ được giải quyết, biểu hiện ra mặt xã hội là sự đối kháng giai cấp giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Sự đối kháng đó khi đến đỉnh điểm thì cách mạng xã hội sẽ nổ ra. Trên thực tế các cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân, nhân dân lao động tến hành đã nổ ra ngay từ khi mới ra đời và cùng với quá trình phát triển, thì những cuộc cách mạng xã hội đó đã trở thành các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và chiến thắng giai cấp tư sản, làm suy yếu và thất bại chế độ tư bản.
 Điều này cho thấy rằng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản không và sẽ không bao giờ là một chế độ hợp với quy luật phát triển của xã hội loài người, không bao giờ là vĩnh cửu khi mà nó là chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, khi mà trong lòng nó luôn tồn tại những mâu thuẫn không thể điều hòa.
Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế, đây là bộ phận tiên tiến nhất của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới, tập hợp và liên kết các đảng cộng sản và công nhân, các tổ chức chính trị xã hội của giai cấp công nhân quốc tế trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa quóc tế của giai cấp công nhân. Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế là phong trào đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động nhằm chống lại giai cấp tư sản, xóa bỏ chế độ áp bức và bóc lột, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới và thực hiện các mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Lịch sử hình thành, phát triển của Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế là một quá trình lâu dài, trải qua nhiều giai đoạn phát triển gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống các chế độ áp bức, bóc lột và đặc biệt gắn liền với sự phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin – hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và phong trào công nhân. Sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân dẫn đến sự ra đời và phát triển các đảng cộng sản và công nhân – đội tiền phong của giai cấp công nhân. Từ khi giai cấp công nhân có đảng cộng sản chân chính lãnh đạo, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đã chuyển từ tự phát lên tự giác. Phong trào Công nhân với nhiều tổ chức chính trị - xã hội, nhiều hình thức và phương pháp đấu tranh đã góp phần to lớn làm biến đổi sâu sắc bộ mặt thế từ giữa thế kỷ XIX đến nay. Đặc biệt là trong thế kỷ XX phong trào công nhân đã giành thắng lợi vang dội đưa chủ nghĩa xã hội mở đầu bằng cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, sau chiến tranh thế giới thứ 2 trở thành hệ thống đe dọa sự tồn vong của chủ nghĩa tư bản.
Măc dù trong giai đoạn vừa qua chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu thoái trào sụp đổ, nhưng theo phân tích của các nhà nghiên cứu thì đây là sự sụp đổ của những mô hình cụ thể đã cững nhắc chứ không phải sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học và Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế. Nguyên nhân của sự sụp đổ trên ai cũng rõ đó là do giáo điều, máy móc, do chậm đổi mới tư duy, do sự chống phá của các thế lực thù địch và các phần tử cơ hội xét lại. Với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại do đã rút ra được những bài học sương máu từ sự sụp đổ trên, nên đã kịp thời cải cách, đổi mới không những không sụp đổ mà còn phát triển mạnh mẽ. Mô hình đó đã ngày càng củng cố thêm niềm tin vững chắc vào chế độ xã hội chủ nghĩa, cổ vũ, động viên phong trào công nhân quốc tế tiếp tục phát triển trên con đường đấu tranh vì một tương lai tươi sáng của mình.
Hiện nay cho dù chủ nghĩa tư bản có tận dụng được khoa học, công nghệ, có điều chỉnh thích nghi, nhưng họ cũng không làm giảm được những mâu thuẫn vốn có mà nó ngày càng trầm trọng thêm. Biểu hiện của những mâu thuẫn này đó là những cuộc khủng hoảng về chính trị, kinh tế và những bất ổn xã hội đang hàng ngày, hàng giờ xảy ra ngay chính trong lòng của các nước tư bản, trong đó phần nhiều ở các nước tư bản phát triển, đặc biệt là Mỹ. Từ những khủng hoảng đó làm cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở các nước này vẫn tiếp tục diễn ra một cách mạnh mẽ.

Như vậy những quan điểm được phát ra từ những miệng lưỡi của các học giả tư sản đã nêu ở trên là hoàn toàn không có cơ sở khoa học. Sự ngụy biện của họ chẳng qua chỉ để cố gắng bảo tồn cái cơ thể hiện đang mục ruỗng của họ và qua đó làm giảm đi khí thế đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động mà thôi. Chúng ta có thể khẳng định rằng Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế hiện nay sẽ không hề bị thủ tiêu và cũng không bao giờ trở thành cơ thể yếu ớt mà phong trào đó ngày càng phát triển mạnh mẽ. Chúng ta tin tưởng rằng sớm hay muộn phong trào đó cũng sẽ giành thắng lợi trên phạm vi toàn thế giới và nó luôn là một tất yếu của lịch sử./.

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2016

VĂN HÓA GIA ĐÌNH VÀ BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM


Nói đến vị thế của người phụ nữ trong gia đình gia trưởng không thể không đề cập đến nguồn gốc tạo ra những quan hệ thiếu bình đẳng của gia đình Việt Nam truyền thống, trong đó yếu tố văn hóa là nguyên nhân căn bản hình thành lối sống, cách ứng xử, quan hệ giữa các thành viên gia đình, đặc biệt là quan hệ đối với phụ nữ trong gia đình và xã hội.
Có thể hiểu khái niệm và các đặc trưng của văn hóa gia đình như sau:
“Văn hóa gia đình là hệ thống các giá trị, chuẩn mực được thừa nhận nhằm tạo ra phương thức ứng xử trong quan hệ giữa các thành viên gia đình và quan hệ với xã hội, môi trường”.
- Văn hóa gia đình được hình thành có chọn lọc, được trải nghiệm, lưu truyền và được bổ sung qua các thế hệ;
- Văn hóa gia đình là sự biểu đạt trung thực nhất bản sắc văn hóa dân tộc.

Sự tồn tại lâu dài của Gia đình Việt Nam truyền thống:

Người Việt Nam từ xa xưa vẫn tôn vinh triết lý sống, "an bần lạc đạo" (chấp nhận sống nghèo, mà giữ lấy cái đạo làm người), nghĩa là vợ chồng cùng nhau thỏa mãn sống trong cảnh "một túp lều tranh với hai trái tim vàng". Do nhận thức còn hạn chế và chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, các triều đại phong kiến dựa vào triết lý sống này để đưa ra những chính sách cai quản đất nước theo chế độ khép kín kiểu "bế quan tỏa cảng", lấy "nông vi bản" (nghề trồng lúa nước làm căn bản) để phát triển kinh tế và duy trì văn hóa làng xã làm nền tảng cho sự ổn định xã hội. Cho đến ngày nay, tư duy người Việt vẫn coi gia đình không chỉ gồm những người có liên kết với nhau bằng huyết thống (cha con, anh chị em) và nghĩa tình (vợ chồng, con nuôi, bố mẹ nuôi) mà còn có sự hiện diện vô hình của tổ tiên, của những người ruột thịt đã khuất nhưng vẫn thường xuyên tham dự vào mọi sinh hoạt gia đình như một thành viên quan trọng, gần gũi mà thiêng liêng, có vai trò rất lớn đối với đời sống tinh thầncủa các thành viên khác).

Vị trí địa lý đặc thù tạo cho dân tộc Việt Nam những đợt tiếp xúc, giao lưu, kể cả các cuộc xâm lược từ bên ngoài đã làm nên diện mạo đời sống văn hóa của dân tộc có nhiều biến động trong lịch sử. Văn hóa và triết lý Phật giáo bằng con đường từ Ấn Độ được người Việt Nam tiếp cận từ rất sớm và đã mau chóng đi vào đời sống của tầng lớp bình dân trong không gian văn hóa làng xã một cách hồn nhiên, hòa bình. Tư tưởng nhà Phật rất dễ đi vào lòng người và được cảm nhận, tiếp biến một cách sâu sắc, nội dung thuyết giáo nhà Phật được biểu hiện một cách tự nhiên qua mọi lề thói, nếp sống của các thành viên gia đình (theo cả nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp). Chính vì thế, gia đình truyền thống của người Việt đã sớm hình thành Đạo thờ Mẫu và Đạo thờ cúng tổ tiên. Tiếp theo sau là sự ngự trị của văn hóa Hán – Nho, sản phẩm tinh thần có sức mạnh và là trợ thủ đắc lực cho chế độ quân chủ trong nền kinh tế tự cung tự cấp của xã hội nông nghiệp, Nho giáo rất thích hợp với giai cấp thống trị trong việc áp đặt và duy trì các chính sách “thủ cựu” vào đời sống văn hóa – xã hội của Việt nam qua nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, nho giáo cũng đã có những đóng góp quan trọng trong vấn đề giáo dục con người với cái gốc xuất phát từ “giáo dục gia đình” dựa trên những định chế cụ thể, mang tính thiết thực trong đời sống hàng ngày, vì thế nhiều nội dung luân lí của nho giáo vẫn còn giá trị trong đời sống hiện đại và được nhiều nước Châu Á chọn lọc khai thác như Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam...

Ngày nay, vẫn còn trên 70% người dân Việt Nam làm nghề nông và vẫn sống ở nông thôn, tuy kiểu gia mở rộng (từ 3 thế hệ) không chiếm tỷ lệ đa số như trước đây, nhưng lối sống và những phong tục, tập quán dựa trên mối liên hệ huyết thống, từ trực hệ với ông bà đến quan hệ dòng họ (cùng một ông tổ sinh ra) và rộng hơn nữa là qua hệ làng xã, cộng đồng dân tộc (đại gia đình theo nghĩa rộng nhất) vẫn được duy trì. Sự tồn tại của tổ chức gia đình mở rộng với những qui định ràng buộc chặt chẽ theo dòng họ và bị chi phối bởi chế độ “gia trưởng” ngày nay không còn phù hợp với cuộc sống công nghiệp; đây là mâu thuẫn ẩn chứa nhiều yếu tố tiêu cực, trở thành lực cản trước sự tiến bộ xã hội. Điều này cũng giải thích được lý do mặc dù vấn đề bình đẳng giới và không bạo hành phụ nữ được đảm bảo trong luật pháp Việt Nam, nhưng hiện tượng bất bình đẳng và bạo lực vẫn tồn tại, thậm chí còn đang có chiều hướng gia tăng. Vì ảnh hưởng của lối sống kiểu gia đình truyền thống nên trong nhà có xảy ra bạo lực hay các hành vi thiếu bình đẳng thì các thành viên thường dấu kín, không nói với cha mẹ, bạn bè, không thông báo cho chính quyền địa phương với lối nghĩ “không muốn vạch áo cho người xem lưng” .

Phụ nữ Việt Nam trong gia đình truyền thống:

Theo tư tưởng Nho giáo, mọi người trong xã hội đều bị trói buộc bởi năm mối quan hệ: vua - tôi, cha - con, vợ - chồng, anh - em, bạn - bè; năm mối quan hệ này phản ánh hiện thực hai mặt của cuộc sống là quan hệ gia đình và quan hệ xã hội. Trong xã hội phong kiến, mối quan hệ gia đình được củng cố bằng chế độ tông pháp (họ tộc) và chế độ gia trưởng, còn các quan hệ xã hội thì được duy trì bởi chế độ chính trị đẳng cấp. Đi cùng với các mối quan hệ đó là những qui định giao tiếp bắt buộc mà mỗi thành viên trong xã hội phải thực hiện. Quan niệm về một gia đình có trật tự, kỷ cương lại càng trở nên chặt chẽ và khắc nghiệt hơn, trong đó quyền hành của người cha, người chồng là tuyệt đối, vị thế của người phụ nữ, người vợ rất hạn chế.

Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến bị chèn ép theo những chế ước hết sức ngặt nghèo, một trong các đạo qui định người phụ nữ phải tuân thủ là “Đạo Tam tòng - Tứ Đức”. Tam tòng là tại gia tòng Phụ; xuất giá Tòng Phu; Phu tử tòng Tử (con gái còn ở trong gia đình  phải nghe theo Cha, đi lấy chồng phải phụ thuộc vào Nhà Chồng, khi Chồng chết phải ở vậy và phụ thuộc vào người Con Trai). Theo Hán ngữ, chữ Tử nghĩa là con nói chung, nhưng trong Đạo Tam tòng, người con gái không được xếp ứng với nghĩa là con trong trường hợp này (Phu tử tòng Tử chỉ con trai) ; cách ứng xử như vậy đủ nói lên sự bất bình đẳng đối với phụ nữ trong xã hội phong kiến; ngày nay hiện tượng này tồn tại không nhiều nhưng vẫn tiềm ẩn trong ý thức của các thệ hệ còn ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo. Tứ Đức là Công – Dung – Ngôn – Hạnh; đây là 04 đức tính thiết yếu phải được dạy và học - hành đối với phụ nữ ngay từ khi còn nhỏ ở gia đình. Thực hành tứ đức có mặt tích cực là giúp người phụ nữ chăm chỉ và khéo léo trong lao động (công); biết giữ gìn thân thể, vẻ đẹp vốn có (dung); biết cách ứng xử giao tiếp qua ngôn ngữ, cử chỉ “lời ăn tiếng nói” (ngôn); và giữ được tư cách, đạo đức cần có ở người phụ nữ (hạnh). Mục đích của giáo dục Công – Dung – Ngôn – Hạnh trong xã hội cũ chủ yếu nhằm trang bị cho phụ nữ những kiến thức, kỹ năng hướng tới việc thực hiện bổn phận làm vợ, làm dâu khi lấy chồng. Nếu lược bỏ đi những mặt hạn chế ở tính mục đích và phương pháp giáo dục ngặt nghèo ở chế độ cũ thì Tứ Đức vẫn còn tác dụng tốt, duy trì được tố chất "nữ tính" của người phụ nữ Việt Nam.

Mặt hạn chế trong nội dung giáo dục của Nho giáo nêu trên tạo ra một xã hội với những con người hoặc là bảo thủ, trì trệ, lạc hậu hoặc là nhẫn nhục, cam chịu và như vậy khó mà thi hành được sự bình đẳng trong quan hệ giữa phụ nữ và nam giới. Những quan hệ "ấm cúng" kiểu gia đình gia trưởng là tác nhân kìm hãm năng lực phát triển của con người cá nhân cả về trí tuệ và sự tham gia công việc xã hội; nó góp phần vào việc duy trì sự tồn tại lâu dài của kiểu gia đình truyền thống.

Bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình thời kỳ công nghiệp hóa.
Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tạo cho gia đình Việt Nam điều kiện tiếp thu những giá trị văn hóa mới của xã hội hiện đại, sự biến đổi về quy mô, cơ cấu và chức năng của gia đình trong cuộc sống công nghiệp đang có những chuyển biến tích cực ở một số giá trị văn hóa gia đình; nhận thức về tình yêu, hôn nhân có nhiều biến đổi trong những năm gần đây, tuổi kết hôn lần đầu của thanh niên, nhất là ở phụ nữ đã được nâng cao, làm cho thiếu niên có nhiều cơ hội và thời gian học tập, tích lũy để chuẩn bị cho cuộc sống gia đình tương lai.Tỉ lệ số phụ nữ được thực hiện quyền bình đẳng về kinh tế, việc làm và được thụ hưởng thành quả lao động ngày càng cao; tự do trong tình yêu và hôn nhân được tôn trọng trên cơ sở bình đẳng giới và được pháp luật bảo vệ, góp phần nâng cao vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội.

Mặc dù ngày càng có nhiều công cụ và các điều kiện giúp con người giảm nhẹ sức lao động, nhưng người phụ nữ ngoài việc tham gia công việc, đóng góp ngày càng nhiều vào nguồn thu nhập, vẫn phải đảm nhiệm hầu hết các công việc trong cuộc sống gia đình, do vậy họ có ít thời gian chăm sóc bản thân, tham gia công tác xã hội và hoạt động vui chơi giải trí. Một nghịch lý đang tồn tại là việc nội trợ, nuôi dạy con, chăm sóc các thành viên gia đình của phụ nữ thường bị coi là không có giá trị kinh tế, điều này được bộc lộ rõ chỉ từ khi xã hội thừa nhận sự hiện diện của "dịch vụ giúp việc gia đình" (ô shin). Ngoài ra, phụ nữ còn là nạn nhân chủ yếu của sự phân biệt đối xử, phải gánh chịu những lạm dụng về thể xác, tinh thần từ phía người đàn ông.

Những quan niệm và hành vi không đúng đắn về tình yêu, tình dục, hôn nhân và gia đình được xuất hiện, phổ biến hoặc đưa tin hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng và mạng internet ở tất cả các quốc gia có điểm xuất phát là đề cao, coi trọng lối sống thực dụng cá nhân, chối bỏ các chuẩn mực tốt đẹp của gia đình trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, điều này làm cho đời sống gia đình hiện nay ẩn chứa nhiều mâu thuẫn với mức độ ngày càng phức tạp và diễn biến dưới nhiều hình thức. Tình trạng ngoại tình, kết hôn bất hợp lý, bạo lực gia đình, ly thân, ly hôn đang có chiều hướng gia tăng mà nạn nhân trước hết và chủ yếu vẫn là phụ nữ và trẻ em gái; các kiểu sống gia đình không bình thường so với lối sống truyền thống đang nảy sinh và trở thành vấn đề xã hội nan giải như sống chung không kết hôn, không muốn sinh con, lối sống thử, sống độc thân hoặc kết hôn đồng tính mà hậu quả của nó để lại nhiều tiêu cực đối với việc ổn định thiết chế gia đình.

Tại các nước công nghiệp phát triển, các vấn đề liên quan đến bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình không phải không có những vấn đề mâu thuẫn cần phải giải quyết cho hiện tại và trong tương lai:
Ở Mỹ vào những năm 1990, người dân đã phải lên tiếng về tình trạng là khi trẻ đi học về nhà, đã thưa dần những tiếng chào bố, hoặc chào mẹ vì tỉ lệ ly dị ngày càng cao; nam giới Hàn quốc hiện đang gặp khó khăn trong việc lập gia đình vì thiếu phụ nữ trong lứa tuổi kết hôn; vào khoảng năm 2020, Trung Quốc sẽ có tới 30 triệu thanh niên không lấy được vợ vì không có "đối tác", có nghĩa là tuổi trẻ khi đó sẽ gặp khủng hoảng trong việc tạo lập ra một thế hệ gia đình mới; trong khi đó các nhà quản lý và xã hội học khuyến cáo rằng không thể giải quyết tình trạng mất cân bằng giới tính của quốc gia bằng cách khuyến khích lấy vợ người nước ngoài một cách ồ ạt, thiếu thận trọng về các yếu tố văn hóa và thực hiện bình đẳng giới; hiện tại Phần Lan có đến 40% thanh niên sống độc thân, không lấy vợ, lấy chồng; điều này cho thấy khả năng tái tạo nguồn lao động trong tương lai sẽ bị gián đoạn và hậu quả để lại không chỉ dừng ở phạm vi một quốc gia; vì thế 50% trong tổng số hơn 5 triệu dân Phần Lan đang là lực lượng lao động để nuôi sống mình và duy trì đời sống xã hội; còn đất nước Nhật Bản rút ra được bài học kinh nghiệm muộn mằn là sau mấy chục năm thực hiện công nghiệp hóa thì cũng chính thời gian đó nước Nhật đã phá gần xong nền Văn hóa Dân tộc Phù tang.

Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký kết các công ước quốc tế về thực hiện quyền phụ nữ và quyền trẻ em; việc đưa những tư tưởng tiến bộ về bình đẳng giới vào gia đình ở một quốc gia vốn chịu ảnh hưởng của Nho giáo có thể được coi là một bước tiến bộ lớn, tạo điều kiện về mặt pháp lý để nâng cao vị trí và vai trò của người phụ nữ trong gia đình. Đời sống xã hội ở thời kỳ công nghiệp và hậu công nghiệp đang vận động, biến đổi hết sức phức tạp và đa dạng theo chiều hướng: nhiều giá trị văn hóa gia đình truyền thống không còn phù hợp, trong khi những giá trị mới lại chưa được định hình; đây là mâu thuẫn cơ bản cần giải quyết và là vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý xã hội.
Việc kết hợp hài hòa các giá trị văn hóa truyền thống với các giá trị hiện đại trên cơ sở bảo tồn bản sắc văn hóa và chủ động giao lưu với bên ngoài là giải pháp tích cực đưa dân tộc Việt Nam vượt qua những khó khăn, thách thức, khơi dậy được vai trò động lực của các giá trị truyền thống cho sự phát triển và tiến bộ xã hội, và ở trong hoàn cảnh đó, phụ nữ Việt Nam mới hoàn toàn có quyền bình đẳng trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của gia đình, có cơ sở pháp lý để tự tin bước ra ngoài cánh cửa gia đình, tham gia và đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước./.

 Nguồn: phunu.hochiminhcity.gov.vn

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2016

Ý THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC CHÂN CHÍNH


Nhân dân ta có một ý thức bảo vệ Tổ quốc cực kỳ sâu sắc đã trở thành truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, truyền thống đó được bắt nguồn từ quá trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của cha ông ta để lại. Truyền thống đó sẽ tiếp tục được giữ gìn và phát triển qua các thế hệ người Việt Nam đến muôn đời sau. Tuy nhiên ở từng thời kỳ lịch sử và từng con người cụ thể thì ý thức bảo vệ Tổ quốc cũng được thể hiện một cách khác nhau. Vậy thì ý thức bảo vệ Tổ quốc như thế nào, cách thể hiện ra sao để ý thức bảo vệ Tổ quốc đem lại hiệu quả nhất, mang lại những điều có lợi nhất cho quốc gia, dân tộc và phù hợp với nguyện vọng của đại đa số nhân dân, phù hợp với xu thế của thời đại? Đây là vấn đề đặt ra mà chúng ta phải trả lời và thể hiện cho đúng.
Thời gian vừa qua nhân sự kiện Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng đặc quyền kinh tế của nước ta và sự kiện các chết hàng loạt do ô nhiễm môi trường biển ở 4 tỉnh miền trung, nhiều người dân đã thể hiện rõ ý thức bảo vệ Tổ quốc của mình, đây là điều đáng mừng, đáng tự hào và đáng biểu dương. Sẽ tốt đẹp biết mấy nếu như ý thức đó của người dân được thể hiện một cách phù hợp, được tổ chức một cách chặt chẽ, và mang tính xây dựng cao. Tuy nhiên điều không mong muốn lại xảy ra, lợi dụng ý thức bảo vệ Tổ quốc chân chính đó của người dân một số phần tử xấu và nhiều kẻ quá khích đã kích động nhân dân thể hiện ý thức đó một cách thái quá, họ đã làm cho cuộc mít tình để phản đối trở thành bạo động thậm trí đốt phá, cướp bóc tài sản của các doanh nghiệp nước ngoài đang làm ăn chân chính tại nước ta. Sự việc đó đã làm phương hại đến hình ảnh của một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa vốn yêu chuộng hòa bình, luôn mong muốn hữu hảo, làm bạn với các nước để cùng nhau phát triển. Đồng thời còn làm cho đất nước phải chịu một tổn thất lớn vì phải đền bù những thiệt hại do chính người dân gây ra cho các doanh nghiệp nước ngoài đó.
 Điều rất may là Đảng, Nhà nước ta đã kịp thời có các giải pháp để làm dịu đi sức nóng của sự thể hiện ý thức bảo vệ Tổ quốc một cách thái quá của người dân. Đồng thời với đó là triển khai một loạt các biện pháp để tuyên truyền vận động nhân dân hiểu rõ và thể hiện ý thức bảo vệ Tổ quốc của mình một cách phù hợp để đem lại lợi ích cao nhất cho quốc gia, dân tộc.
Qua sự việc trên cho thấy nhân dân ta luôn có ý thức bảo vệ Tổ quốc rất cao, tuy nhiên để thể hiện một cách đúng đắn, phù hợp chân chính thì vẫn còn chưa đạt được. Điều này cho thấy mức độ hiểu biết của đại đa số nhân dân còn chưa cao, họ rất dễ bị lôi kéo, kích động trước những mưu đồ thâm độc của các thế lực thù địch. Có thể nói rằng những sự kiện không mong muốn vừa qua là cơ hội vàng cho chúng để thông qua đó gây nên những bất ổn trong nước, đồng thời khoét sâu vào mâu thuẫn giữa nước ta và Trung Quốc để sự khủng hoảng đó ngày càng tăng lên và người được lợi nhất trong sự kiện đó chính là các thế lực thù địch đối với chúng ta.

Hơn lúc nào hết trong điều kiện hiện nay mọi người dân Việt Nam cần phải thật sự bình tĩnh, nhìn nhận mọi sự kiện một cách rõ ràng và thể hiện ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của mình một cách đúng đắn để đem lại lợi ích tốt nhất cho quốc gia, dân tộc. Cả dân tộc ta phải thực sự đoàn kết xung quanh Đảng Cộng sản Việt Nam để bằng mọi giá giữ vững độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, chế độ, sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thông qua đó để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng không để mắc mưu kẻ thù mà gây hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc./ 

CÓ THỂ TIỆM TIẾN TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI ĐƯỢC KHÔNG?


Hiện nay trên nhiều văn đàn, diễn đàn và các trang mạng xã hội có một số quan điểm, thậm chí có cả quan điểm của một số người là đảng viên, trí thức ở các trung tâm khoa học lớn, họ cho rằng: “Trên cơ sở sự phát triển của cách mạng khoa học, công nghệ, sự điều chỉnh thích nghi của chủ nghĩa tư bản và sự tham gia của một bộ phận công nhân vào quản lý sản xuất, kinh doanh thì chủ nghĩa tư bản sẽ dần tiệm tiến lên chủ nghĩa xã hội mà không cần phải tiến hành đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội. Như vậy thế giới sẽ giữ được môi trường hòa bình để phát triển, sẽ không xảy ra đổ máu vô ích...”. Vậy một câu hỏi đặt ra là liệu điều đó có thể xảy ra không?
Là những người cộng sản hơn ai hết chúng ta đều có thể khẳng định rằng, điều đó sẽ không thể xảy ra. Khi đi vào nghiên cứu mổ sẻ và phân tích giai cấp tư sản, chủ nghĩa tư bản các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin đã vạch trần bản chất của giai cấp tư sản, chế độ tư bản chủ nghĩa. Đây là chế độ mà lợi ích của chúng luôn gắn liền với sự áp bức, bóc lộ giai cấp công nhân, nhân dân lao động thông qua giá trị thặng dư. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lênin cũng đã chỉ ra rằng với bản chất của giai cấp tư sản vì lợi nhuận của nó nó có thể làm tất cả bất chấp mọi thủ đoạn. Thực tế cũng đã chứng minh trong suốt quá trình hình thành và tồn tại, phát triển của giai cấp tư sản, chế độ tư bản thì luôn gắn liền với việc áp bức, bóc lột giai cấp công nhân, nhân dân lao động. Chủ nghĩa đế quốc vì lợi ích của mình chúng đã tiến hành những cuộc chiến tranh thế giới để mục đích phân chia thị trường gây ra bao đau khổ cho nhân dân lao động.
Mặc dù hiện nay cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, chủ nghĩa tư bản có điều chỉnh thích nghi, một bộ phận công nhân ở một số nước tư bản có cổ phần được tham gia quản lý sản xuất, tuy nhiên khoa học càng phát triển thì mức độ bóc lột càng cao. Sự điều chỉnh thích nghi cho công nhân tham gia cổ phần và quản lý sản xuất chỉ là vỏ bọc để điều hòa mâu thuẫn giai cấp mà thôi. Tìm hiểu kỹ cho ta thấy tỷ lệ công nhân được tham gia cổ phần trong các doanh nghiệp của các nhà tư sản chỉ chiếm một tỷ lệ hết sức khiêm tốn so với khối tài sản kếch sù của các nhà tư sản. Do vậy mức độ được phân chia lợi nhuận mà người công nhân được hưởng cũng chỉ được một phần rất ít ỏi mà thôi. Theo nhiều số liệu nghiên cứu thì hiện nay ở các nước tư bản phát triển tỷ lệ người giàu chỉ chiếm 10% dân số nhưng đã chiếm đến 90% lượng tài sản. Ngược lại số đông 90% dân số kia chỉ sở hữu 10% lượng tài sản còn lại. Ở góc độ khác ở các nước tư bản phát triển lực lượng giữ vai trò lãnh đạo xã hội thì vẫn là giai cấp tư sản chứ không phải là các giai cấp khác.

Từ những phân tích một cách cơ bản khái quát trên cho thấy sẽ không bao giờ có sự tiệm tiến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các quan điểm đã nêu ở trên là hoàn toàn ngộ nhận, sai lầm, dù vô tình hay cố ý các quan điểm trên cũng tiếp tay cho sự thống trị của giai cấp tư sản bảo vệ cho sự tồn tại của chế độ tư bản. Đồng thời với đó là xóa nhòa mâu thuẫn giai cấp, làm triệt tiêu động lực đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các lực lượng tiến bộ trong giai đoạn hiện nay./